Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

ĐÔI KHI, HÃY DỪNG LẠI, LẮNG NGHE VÀ SUY NGẪM . . .

Thy Anh


          Đã bao giờ bạn chợt nhận thấy mình đã sống quá vội vàng đến nỗi chẳng còn biết được hương vị của cuộc sống ra sao?
Tôi đả từng rất nhiều lần trải nghiệm những khoảnh khắc như thế và, khi ấy, tôi sẽ tìm cách hóa giải bằng một phương pháp cực kỳ đơn giản: tôi dừng mọi hoạt động lại, xem xét và lắng nghe.
Không tin, bạn hãy thử bỏ ra vài phút trong một ngày bận rộn nào đó, ngồi xuống cùng tôi và chúng ta cùng suy ngẫm xem sao.
          Bạn thử tưởng tượng mình đang ở giữa một làn xe cộ bị kẹt cứng và bạn đang cố gắng thoát ra để không bị trễ hẹn, bạn rất bực mình vì những người lái xe khác cứ cố chen lấn bạn một cách thô bạo. Lúc đó, có lẽ bạn chỉ còn tập trung vào mỗi một việc là tìm mọi cách để thoát ra khỏi cái mớ hỗn độn đáng ghét đó, thế rồi cuối cùng, ồ . . . nhẹ cả người, bạn cũng thoát ra được, chỉ bị trễ có vài phút. Bạn có thấy được khi đang bị kẹt trong dòng xe cộ ấy, trông bạn như thế nào không? Chắc chắn bạn chẵng them bắt chuyện với ai vào lúc đó. Bạn có thấy hài lòng với chuyến đi như vậy không? Không, chắc chắn là không rồi! Vì bạn đã phải dốc toàn tâm cho việc định hướng và lái xe để thoát khỏi con đường đau khổ đó, còn thì giờ đâu mà quan tâm đến nhửng người xung quanh? Đấy chính là cuộc sống mà đa số chúng ta đang sống!
          Nào, bây giờ bạn hãy tưởng tượng xem, nếu như mình tắt máy xe, bình tĩnh chờ đợi và bắt đầu nhìn ngắm những chiếc xe khác, quan sát những người lái xe, nhìn sang hai bên đường thấy một giàn dây leo mới nở hoa và trên trời cao, mây trắng đang trôi lững lờ . . . nhìn xuống bạn. Hãy thử cùng tôi dừng lại, xem xét và lắng nghe cuộc sống như thế xem sao.
Có lẽ bạn sẽ không đồng ý với tôi đâu vì bạn cho rằng làm như thế chẳng được lợi lộc gì, chẳng cải thiện được gì cho cuộc sống cả . . .
Nhưng, như một nhận định rất sâu sắc của Alan Watts (The Way of Zen): "Muốn làm trong một vũng nước bùn, ta phải để cho chúng có thời gian lắng đọng" . Thật vậy, khi dừng lại, xem xét và lắng nghe, bạn sẽ ngạc nhiên khi nhận ra nhiều điều rất thú vị. Bạn sẽ nhận thấy những người kia đang vội vã, lo âu, giận dữ y như hình ảnh của chính bạn đang phản chiếu trong gương. Nhưng bạn cũng nghe đâu đó vẫn có những tiếng cười hồn nhiên của trẻ em cùng cha mẹ để rồi bạn sực nhớ rằng mình đã bỏ lỡ rất nhiều điều tuyệt diệu trong đời.
          Bạn sẽ còn nhận thức được nhiều điều kỳ diệu hơn thế nữa nếu biết dừng lại, quan sát và lắng nghe những suy nghĩ của chính mình. Bạn sẽ nhận ra mình đang có những ảo vọng sai lầm như thế nào, điều mà bạn không thể phát hiện nếu cứ sống vội sống vàng. Bạn sẽ nhận thức được đâu là những lo âu phiền muộn, những ray rứt của bản thân và phát hiện được chúng từ đâu đến. Bạn sẽ thấy mình tỉnh thức hơn và hoàn toàn có thể sống mà không cần chúng. Bạn sẽ dễ dàng vứt bỏ chúng khỏi đường đi cuả bạn.
          Khi dừng lại, xem xét và lắng nghe, bạn sẽ biết rõ mình như thế nào.
          Khi dừng lại, xem xét và lắng nghe, bạn sẽ học được những bài học vô giá trong cuộc sống.
          Hãy bỏ ra vài phút mỗi ngày, dừng lại, xem xét và lắng nghe. Chắc chắn điều này sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn theo một chiều hướng tích cực.
                      suy nghĩ tích cực sẽ thay đổi cuộc đời bạn
                      cân bằng giữa công việc và cuộc sống
                      khi phải từ bỏ những ước mơ của cuộc đời
                      bệnh trách nhiệm của thời đại
                      sống giản đơn là gì?
                      sống giản đơn hạnh phúc hơn
                      stress, 6 biện pháp giảm stress

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

Thơ “tếu” Quý Bùi : CỤ VÀ CU



Bé thì hay gọi bớ thằng Cu
Về già lọm khọm chống thêm dù
Ra đường ai cũng chào thưa Cụ
Ngẫm ra thì Cụ cũng từ Cu

Thằng Cu râu rậm trông như Cụ
Còn Cụ trẻ trung giống như Cu
Về nhà các cháu kêu bằng Cụ
Ngoài đường em bé gọi anh Cu

Đi làm mệt mỏi mong thành Cụ
Trong đám bạn bè , " Tao còn Cu "
Vợ nhắc trả bài " Tha cho Cụ "
Ở chốn ăn chơi " Có đây Cu "

Cụ mà hay quậy Cụ là Cu
Còn Cu hững hờ Cu thành Cụ
Cụ vẫn chưa gìa còn hay nghịch
Cụ được khen là đúng Cụ Cu

Chỉ thêm cái nặng Cu thành Cụ
Bỏ cái nặng đi Cụ hóa Cu
Về già các Cụ nên bỏ hết
Nhẹ nhàng từ Cụ trở nên Cu

Cái bọn trẻ trung dáng như Cu
Ôm đồm đủ thứ trông như Cụ
Râu ria không cạo trông ra vẻ
Cu Cụ nào đâu khác Cụ Cu

Được nhắc nên em mới nhớ ra
Từ Cu lên Cụ chẳng bao xa
Cu nào còn nhẹ chưa lên chức
Cu nặng cho nên thành Cụ mà

Trước giờ hay lẫn Cụ với Cu
Những khi say xỉn kể như mù
Làm sao phân biệt Cu với Cụ
Mắt hoa chỉ thấy Cụ giống Cu

Sợ khi lên Cụ, muốn thành Cu
Mà thích làm Cu lại bị hù
Đổi  Cụ  thành ra là  Cu Cụ
Bia rượu tha hồ Cu Cụ tu

Ai kia  không biết Cụ hay Cu
Đánh  mất Cu đi kể như bù
Chỉ còn chữ Cụ, Cu không có
Đành đứng kêu rên nắm cán dù

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

TRÌNH BỆNH ÁN: MỘT TRƯỜNG HỢP RỐI LOẠN TRI GIÁC + HẠ NATRI MÁU - Kỳ (1)

BS Thy Anh

BỆNH ÁN
Bà X. góa chồng, 74 tuổi, tiền căn tăng huyết áp, cân nặng 60 kg, huyết áp 160/90 mmHg. Bệnh nhân bắt đầu được điều trị bằng một thuốc lợi tiểu từ 2 tuần nay.
6 tháng nay, sau khi chồng chết, bệnh nhân được điều trị trầm cảm bằng fluoxetine 40mg/ngày. Bệnh nhân từng hút thuốc là 30 gói năm (30 pack years) nhưng đã ngưng hút từ 20 năm nay. Một tuần nay, những người bạn nhận thấy bà mệt, lẫn lộn và có hành vi khác thường (quên không cho mèo ăn). Khám Bà không sốt,  có triệu chứng mất định hướng không gian và thời gian nhưng không có dấu thần kinh khu trú. Huyết áp đo được: 135/80 mmHg khi nằm, 130/75mmHg khi ngồi dậy. Lồng ngực hình thùng, giảm nhẹ biên độ khi thở.
Kết quả xét nghiệm máu: Na+ 111 mmol/l (135-145) K+ 3,1 mmol/l (3,5-4.5) Cl- 93mmol/l (95-107) HCO3- 22mmol/l (22-32) urea 7.2 mmol/l (3.5-7.5) creatinine 65Mmol/l (40-120) lọc cầu thận ước tính # 57ml/min/1.73m2 (80-120) Glucose 6.6 mmol/l  Urate 0.19 mmol/l (0.2-0.42) áp lực thẩm thấu (ALTT) huyết tương đo được (measured osmolality) 248 mOsm/kg (275-297) Đạm toàn phần 70g/l (63-80) Albumin 33g/l (33-50) Globulin toàn phần 37g/l (20-40)  Cholesterol toàn phần 3.7 mmol/l (3.9-5.5) Triglycerides 0.8 mmol/l (0.6-2.5)

CÂU HỎI 1
Câu nào đúng?
a/ Tông lượng nước cơ thể (TBW-Total Body Water) của bà X vào khoảng 30L
b/ thể tích huyết tương của bà X khoảng 2.4L
c/ thể tích ngoại bào chiếm 2/3 tổng lượng nước cơ thể.
d/ natri là chất thẩm thấu có tác dụng quan trọng nhất trên ALTT của dịch ngoại bào (ECF-Extracellular Fluid).

BÀN LUẬN
hình 1
hình 2
Tổng lượng nước cơ thể thường vào khoảng 60% cân nặng, tuy nhiên, ở phụ nữ và người già Tổng lượng nước cơ thểchỉ khoảng 50% vì giảm khối lượng bắp thịt và tăng lượng mỡ (hình 1) . Trẻ nhỏ, trái lại, có rất ít mỡ nên Tổng lượng nước cơ thể lên đến 70% cân nặng. 2/3 Tổng lượng nước cơ thể là dịch nội bào (ICF-Intracellular Fluid). Dịch ngoại bào bao gốm huyết tương (4% cân nặng) và dịch mô kẽ (16% cân nặng). Các chất thẩm thấu có tác dụng quan trọng nhất trên ALTT là những phân tử nhỏ, được duy trì ở những nồng độ khác nhau trong dịch ngoại bào hoặc dịch nội bào. Natri (và anion đi kèm) là chất thẩm thấu chủ yếu của dịch ngoại bào trong khi Kali là chất thẩm thấu chủ yếu của dịch nội bào, vì natri và kali không được tự do di chuyển qua màng tế bào như H2O, mà phải nhờ men NaK-ATPase. Natri và kali là 2 yếu tố quyết định trương lực thẩm thấu (tonicity: effective osmolality) của dịch ngoại bào và nội bào (hình 2).  
Trong não và vùng tủy thận, còn có thêm những chất thẩm thấu nội bào hiệu quả như myoninositol, phức hợp chứa choline(glycerylphosphorylcholine),phosphocreatine, N-acetyl-aspartate, glutamate và glutamine. Nồng độ nội bào của các chất thẩm thấu này sẽ thay đổi trực tiếp tùy theo sự thay đổi về thể tích của tế bào để giúp cho tế bào khôi phục lại thể tích ban đầu.
Nồng độ natri ngoại bào quyết định ALTT của dịch ngoại bào, do đó, sẽ quyết định thể tích dịch ngoại bào. Bình thường ALTT nội và ngoại bào phải bằng nhau để chức năng sinh lý của tế bào hoạt động được  ổn định, Natri ngoại bào tăng cao sẽ làm ALTT ngoại bào cao hơn ALTT nội bào, H2O sẽ di chuyển từ nội bào ra ngoại bào, về phía có ALTT cao hơn để giúp cân bằng ALTT giữa 2 bên màng tế bào, hệ quả, tế bào bị mất H2O, thu nhỏ thể tích lại, trong khi thể tích ngoại bào tăng. Trái lại, khi nồng độ natri ngoại bào giảm, ALTT ngoại bào sẽ thấp hơn nội bào, H2O sẽ di chuyển từ ngoại bào vào nội bào, hệ quả, tế bào sẽ bị phình to, điều này rất quan trọng đối với các tế bào não vì nằm trong hộp sọ. Tóm lại, thể tích dịch nội bào tỷ lệ nghịch với nồng độ natri ngoại bào (hình 3). 
hình 3
Trường hợp hạ natri máu nặng và cấp (hạ natri xảy ra trong vòng 48 giờ), bệnh nhân sẽ bị phù nào, thoát vị não và giảm oxy máu nặng vì phù phổi không do tim. Tuy nhiên, sự tương qua nghịch chiều giữa nồng độ natri máu với thể tích dịch nội bào sẽ không xảy ra nếu có sự hiện diện các chất thẩm thấu hữu cơ trong dịch ngoại bào sinh ra khoảng trống thẩm thấu hoặc khi có sự gia tăng các chất thẩm thấu nội bào vì bệnh nhân bị động kinh hoặc ly giải cơ vân. Sau khi bị động kinh nặng (bị ly giải cơ vân), H2O sẽ di chuyển từ ngoại bào vào bên trong các tế bào cơ vân làm tăng natri máu, che lấp tình trạng hạ natri máu thật sự đã có từ trước (có thể là nguyên nhân của động kinh).
Nên nhớ natri máu hay nồng độ natri huyết tương chỉ là tỷ lệ của số mmol natri trên 1 lít huyết tương, hơn nữa, natri và H2O được điều hòa bằng các cơ chế khác nhau (hình 4-5) nên nồng độ natri huyết tương không giúp cho ta biết được thể tích dịch ngoại bào là bình thường, cao hay thấp (hình 6).
hình 4
hình 5


Tóm lại:
- tính tổng lượng nước cơ thể sẽ phải giảm bớt nếu bệnh nhân gầy, già hoặc là phụ nữ.
- natri là chất thẩm thấu quyết định chính của ALTT dịch ngoại bào. kali là chất thẩm thấu chính của dịch nội bào.
- Thể tích dịch nội bào tỷ lệ nghịch với nồng độ natri ngoại bào (natri máu)
- một trị số natri máu tăng ngay sau động kinh có thể che lấp một tình trạng hạ natri máu thật đã có từ trước.
hình 6. natri huyết tương không giúp cho ta biết được thể tích dịch ngoại bào là bình thường, cao hay thấp

CÂU ĐÚNG
A,B và D

CÂU HỎI 2
Câu nào đúng?
a/ bệnh nhân này bị hạ natri máu giả.
b/ ALTT huyết tương đo được sẽ luôn luôn thấp nếu bệnh nhân bị hạ natri máu thật
c/ khoảng trống thẩm thấu sẽ tăng cao nếu bị hạ natri máu thật
d/ các triệu chứng thần kinh của bệnh nhân này có thể gây ra bởi hạ natri máu.

BÀN LUẬN
Hạ natri máu giả là trường hợp nên nghĩ đến khi xét nghiệm thấy natri máu thấp nhưng lại có ALTT huyết tương đo được vẫn trong giới hạn bình thường. Đây là một sai số do phương pháp đo natri kiểu cũ, không đo bằng điện cực (electrode). Hạ natri máu giả xảy ra khi  thể tích huyết tương bị chiếm chỗ đáng kể bởi một lượng lớn chất đạm hoặc lipid (tăng globulin trong bệnh đa u tủy hoặc tăng triglycerides quá cao) (hình 7 - 8). Trường hợp này bệnh nhân sẽ có khoảng trống thẩm thấu (ALTT đo được - ALTT tính toán) > 15, vì ALTT huyết tương đo được vẫn bình thường (ALTT phản ánh các hạt ion và các phân tử nhỏ), trong khi ALTT tính toán bị thấp vì được tính từ kết quả natri máu thấp. Kết quả natri máu sẽ bình thường nếu được đo lại bằng electrode.
hình 7. khi % đạm và lipid trong huyết tương trong giới hạn bình thường  khoảng 7%

hình 8. khi % đạm và lipid cuả huyết tương tăng rất cao - 20%

ALTT huyết tương đo được sẽ luôn luôn thấp nếu bệnh nhân bị hạ natri máu thật vì natri là yếu tố quyết định ALTT chính của dịch ngoại bào. ALTT tính toán theo công thức : 2 x Na + urea + glucose (tất cả dùng đơn vị mmol/l, nếu ure và glucose dùng đơn vị mg/dl công thức sẽ l à: 2 x Na + BUN/2.8 + Glucose/18. Trường hợp bà X. ta có ALTT tính toán = 235.8mosm/l, vậy không có khoảng trống thẩm thấu (248 - 235.8 < 15).
Hạ natri có tăng ALTT và tăng khoảng trống thẩm thấu (>15) xảy ra khi có sự hiện diện của nhiều chất thẩm thấu trong huyết tương như rượu ethanol, methanol, ethylene glycol, các phân tử không xác định trong nhiễm toan keton, toan lactic, suy thận mạn. ALTT đo được trong các trường hợp này phản ánh sự hiện diện các chất hòa tan này trong huyết tương nhưng vì chúng không được dùng trong công thức tính ALTT nên sẽ làm tăng khoảng trống thẩm thấu. Glucose cũng làm tăng ALTT huyết tương nhưng lại được dùng trong công thứ tính ALTT nên các bệnh nhân đái tháo đường có thể có đường huyết tăng cao, tăng ALTT nhưng không tăng khoảng trống thẩm thấu. Glucose và các chất thẩm thấu nêu trên  làm tăng ALTT ngoại bào hơn nội bào nên gây ra hiện tương tái phân bố H2O từ nội bào ra ngoại bào, hệ quả hạ natri máu (natri ngoại bào). Khi glucose máu cao hơn 100mg/dl, cứ 100mg glucose máu tăng thêm sẽ làm giảm 1.6mmol/L natri máu, nếu glucose máu cao hơn 400mg/dl, cứ 100mg glucose máu tăng thêm sẽ làm giảm 2.4mmol/L natri máu. Lưu ý, tăng urea máu trong trường hợp suy thận không làm tái phân bố H20 từ nội bào ra ngoại bào vì urea di chuyển tự do qua màng tế bào, không như glucose phải cần insulin mới vào được tế bào. Tóm lại, tất cả các trường hợp này chỉ gây ra hạ natri máu do tái phân bố H2O.
Triệu chứng lâm sàng của hạ natri máu xuất hiện tùy thuộc vào mức độ hạ natri và tốc độ hạ natri, với cùng một trị số natri máu, nếu hạ natri cấp (trong 48 giờ) bệnh nhân sẽ có nhiều triệu chứng nặng nề hơn hạ natri máu mạn (>48 giờ). Hạ natri nhẹ : < 135 - 130 mmol/l thường không có triệu chứng. Hạ natri trung bình < 130 - 125 mmol/l thường có triệu chứng tiêu hóa như chán ăn, buồn nôn, nôn. Hạ natri nặng < 125 mmol/l sẽ có các triệu chứng thần kinh (hyponatremic encephalopathy): nhức đầu, rối loạn hành vi, rối loạn tâm thần, vọp bẻ, lơ mơ, co giật, thở cheyne stokes, ngưng thở do tụt não, phù phổi cấp do phù não. Phù não do hạ natri gây tăng trương lực giao cảm, làm co các tiểu tĩnh mạch phế nang nên làm tăng áp lực mao mạch phổi, đồng thời phù não cũng gây tăng tiết endorphin, histamin và các bradykinin sẽ làm tăng tính thấm thành mạch, hệ quả sẽ phù phổi cấp không do tim, bệnh nhân sẽ bị giảm oxy máu nặng, tử vong nhanh chóng. Các triệu chứng này càng xảy ra sớm và nặng nếu hạ natri máu cấp.

Tóm lại:
- ALTT huyết tương có thể ước tính bằng công thức 2 x Na + urea + glucose (tất cả dùng đơn vị mmol/l,
- Khoảng trống thẩm thấu (ALTT đo được - ALTT tính toán) bình thường < 15
- Hạ natri máu luôn đi kèm giảm ALTT huyết tương ( hông có khoảng trống thẩm thấu)
- Khoảng trống thẩm thấu > 15 phải nghi ngờ có hạ natri máu giả hoặc có sự hiện diện thêm các chất thẩm thấu hòa tan trong huyết tương.

CÂU ĐÚNG
B và D

(còn tiếp)

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Chúc một ngày hạnh phúc


       Chị tôi, trong bộ đồ bệnh nhân, bước đi theo người y tá vào phòng mổ. Nhìn dáng liêu xiêu của chị tôi thấy chạnh lòng mà không dám khóc. Tôi chưa thấy ai sắp được mổ bước đi  vô hồn mà vội vã như chị. Năm mươi tuổi đời, xinh đẹp và độc thân. Giống như những bông hoa chưng trong mùa nắng; những cơn buồn nhiều hơn cuộc vui đã làm cho nhan sắc chị tàn phai nhanh dần theo năm tháng. Sống cởi mở với cuộc đời nhưng số phận vẫn như không buông tha cho chị. Một khối u nào đó, có lẽ hình thành từ những nỗi buồn lẻ loi trong nhiều năm tháng đã lớn dần lên trong người chị. Vài lần chị vẫn do dự chưa quyết định có nên cắt bỏ nó hay không. Vì sự tồn tại của nó hơn 10 năm nay thật sự chưa phiền hà đến chị là bao ngoài những cơn mệt mỏi vô cớ không thường xuyên mà chị nghĩ rằng do mình bắt đầu có tuổi. Thế rồi sau một đợt khám tổng quát và rồi đến khám chi tiết, bác sĩ nói bằng một giọng thật nhẹ nhàng nhưng gây chấn động chẳng khác nào quan tòa vừa tuyên án tử hình: một u nang buồng trứng, một u xơ tử cung cần cắt bỏ vì nó không còn chức năng gì nữa ngoài việc có thể chuyển sang ung thư và gây tử vong.
       Chiều hôm qua, lúc hai chị em ngồi ở phòng khám, miệng chị mếu xệch, chực khóc: “Nên mổ không em?” Chao ôi, đó là câu hỏi khó trả lời nhất trong đời tôi. Thường ngày, tôi vẫn trả lời những bệnh nhân của mình bằng những câu hỏi hết sức tự tin và tế nhị: “Không sao đâu, mổ xong là hết bệnh”, “Bệnh này thường lắm, nhiều người mổ lắm, nghỉ ngơi một thời gian thì bình phục hoàn toàn, không có tai biến gì đâu”… Thế nhưng, với chị, sao tôi không có can đảm trả lời như vậy. Mỗi một ca mổ đều là một sự can thiệp bất thường của bàn tay con người vào những chức năng sống của cơ thể. Làm sao ai có thể chắc chắn được không có điều gì xảy ra. Ai có thể chắc chắn được không hề có một tai biến nào. Mỗi một ca mổ là một chuyến đi về định mệnh. Trông bề ngoài, chị vẫn như một người khỏe mạnh, đang đi đứng yên lành. Nếu tôi lắc đầu: không nên mổ, thì tôi đã ngăn chặn một cơ hội sống của chị tôi về sau. Tôi đã trả lời chị bằng một câu hỏi: “Bác sĩ còn đưa ra cho chị phương án nào nữa không?” “Không còn cách nào khác em ạ”. Chị thở dài áo não.
       Chiều hôm qua, trong khi hai chị em ngồi đợi làm thủ tục nhập viện, chị đã nói với tôi: “Em ạ, hay là mình đi thẳng lên Đà Lạt chơi một chuyến rồi về Nha Trang quách cho rồi”. Lời đề nghị mới hấp dẫn như thể dường như cuộc sống thật tươi đẹp không biết gì là tật là bệnh. Quả thật, chỉ cần bước ra khỏi cái bệnh viện Từ Dũ này, đón một chuyến xe đò thì đến tối hai chị em chúng tôi đã ở nơi nhà ông anh. Lâu nay bận rộn không có dịp đi thăm nhau. Chỉ một chuyến xe, chúng tôi có thể thoát khỏi cái thành phố Sài Gòn bụi bặm nóng bức này và tận hưởng một không khí mát lạnh của vùng cao nguyên; để rồi vài ngày sau cuộc sống lại trở lại bình lặng như thành phố biển tôi đang sống; để rồi khối u vẫn cứ thỉnh thoảng cuộn lên những cơn mệt mỏi bất thường trong người chị như cơn sóng ngầm. Cuộc sống là một bài thi trắc nghiệm mà trong đó buộc mình phải đánh dấu vào một ô vuông nào đó. Ô vuông của cuộc đời chị, tôi nào dám mạnh mẽ đánh dấu vào.
       Mới sáng hôm qua, hai chị em còn đi siêu thị lựa thứ này thứ kia, chị ướm thử hết áo này áo nọ, tỉ mỉ chọn lựa từng màu son môi, từng chiếc túi xách. Mỗi lần vào thành phố, chị không bao giờ quên việc đi mua sắm. Chị như luôn cảm thấy hạnh phúc trong công việc này. Mua sắm cho mình và mua quà cho mọi người trong nhà. Chị luôn có sở thích mua sắm và ăn hàng. Mỗi khi buồn chị đi mua sắm. Mỗi khi buồn chị đi ăn hàng. Mỗi lần chị rủ tôi đi ăn là tôi biết chị có điều không vui. Chị thích nói với tôi một câu: “Cuộc sống là món ăn mà buồn vui như gia vị.” Mới sáng hôm qua chị hồn nhiên bên những chiếc tủ kính như những cô gái mới lớn mà buổi chiều chị đã như một bà già, lưng còng hẳn xuống và vai so lại ủ rủ như con gà mái đứng dưới mưa, mặc dù chị đang diện một bộ đồ thật đẹp. Ngồi trên hàng ghế đợi, có lẽ, chị cũng không nghĩ đến điều gì xa xôi quá hăm bốn tiếng đồng hồ. Chị đang chờ nghe gọi tên mình, chờ thủ tục nhập viện, rồi sau đó sẽ chờ phẫu thuật, chờ kết quả. Cả phần đời còn lại như được quyết định bằng hăm bốn tiếng đồng hồ nữa thôi. Tất cả quá khứ cũng trở nên vô nghĩa, tương lai thì miễn dự định. Vậy mà ngay trong chính cái thời khắc hăm bốn tiếng đồng hồ này, chị không làm gì được cho mình, và tôi không biết làm gì cho chị ngoài việc ngồi chờ.
       Sáng hôm qua, tôi chở chị đi mua chim phóng sinh. Có ai đó mách rằng phóng sinh chim sẽ được mạnh khỏe và sống lâu. Những con chim nhỏ bé bay lên cao bên trên tháp chùa Vĩnh Nghiêm trông thật dễ thương. Chúng bỗng gieo trong lòng tôi một niềm tin mạnh mẽ rằng chị tôi sẽ khỏi bệnh. Những con chim như mang theo một lời nguyện cầu của tôi trình lên đấng tối cao nào đó, cầu xin cho chị tôi được an lành. Một người bạn của tôi nói đùa: “Chim ở đây quen rồi, chúng nó bay một vòng rồi quay trở lại chui vào lồng của người bán chim thôi”. Mong sao không phải như vậy. Nếu không thì số phận của người phụ nữ như chị tôi cũng lẩn quẩn như những con chim sẻ chỉ biết đường về lồng chim.
       Cánh cửa tự động của phòng mổ khép lại sau lưng chị. Tôi có cảm tưởng mình không còn biết gì về chị nữa. Ngay cả bộ đồ mặc cho bệnh nhân mổ trên người chị cũng quá lạ lẫm. Chẳng lẽ nào đó là hình ảnh cuối cùng của chị mà tôi ghi nhận lại? Bây giờ có lẽ chị đang trả lời những câu hỏi của nhân viên gây mê. Những câu hỏi người ta thường hỏi cho đến lúc bệnh nhân không trả lời được nữa và chìm lỉm trong giấc ngủ của cơn tiền mê. Bây giờ có lẽ bác sĩ đang “khai đao”. Tôi bỗng hoảng hốt. Dường như tôi đang lạc mất chị. Tôi cố nhớ lại chị. Tôi cố tưởng tượng ra lúc hai chị em đang sóng sánh cùng nhau. Nhưng tôi bất lực. Ngày ngày chị chăm sóc cho mọi người trong gia đình. Mọi thứ đều có bàn tay chăm chút của chị, nhưng dường như trong nhà không ai bận tâm đến những gì chị đã làm, cứ như một sự hiển nhiên. Bây giờ, thời gian như ngừng lại. Những kỷ niệm của tôi và chị như ngừng tại đây. Tôi không còn biết gì về chị nữa. Tôi nhìn quanh lục tìm. Chỉ còn chiếc điện thoại di động của chị. Tôi cầm nó lên tay, tôi có cảm tưởng nó chực reo.
Xưa nay, tôi chưa bao giờ tò mò nhìn vào điện thoại ai, vậy mà, bây giờ tôi hối hả lục tìm trong điện thoại của chị. Tôi hối hả nắm giữ những gì còn sót lại, có thể liên quan đến chị. Tôi đọc điện thoại của chị, như thể nó có thể nói cho tôi biết chị tôi bây giờ ra sao. Những cái tên riêng trong danh bạ không bỏ dấu, tôi chẳng biết ai ngoài một số người thân trong gia đình. Bỗng dưng trong tôi xuất hiện một ý tưởng ngớ ngẩn. Tôi muốn gởi đi một tin nhắn hàng loạt cho tất cả mọi người trong danh bạ: “Ai biết chị tôi bây giờ ra sao không?”. Tôi chợt oán ghét những cái tên này. Sao chẳng ai gọi đến một cú điện thoại nào hỏi thăm chị tôi cả. Tôi lục tìm tin nhắn. Tôi chợt sững người khi chợt thấy một mẩu tin mới nhất của một ai đó với cái tên được lưu là QD. “Can đảm lên, anh luôn ở bên cạnh em. Anh sẽ là người đầu tiên gọi cho em khi em tỉnh giấc”. Đọc xong tin nhắn, tôi vội vàng tắt điện thoại của chị. Tôi sợ nghe tiếng người đó gọi. Hiện giờ thì tôi chưa thể trả lời cho ai biết tình trạng của chị. Tôi sợ sẽ gây thất vọng cho một ai đó. Có lẽ, chị cũng muốn nghe được giọng nói của QD đầu tiên sau khi mình tỉnh thuốc mê. Bỗng dưng, tất cả những ý nghĩ của tôi về chị bây giờ tò mò chuyển sang một nhân vật khác. QD là ai, tôi chưa từng nghe chị nói. Một điều gì đó thôi thúc tôi bật mở điện thoại của chị trở lại. Tại sao tôi lại tắt điện thoại khi không còn biết chút gì về chị nữa sau khi chị bước qua cánh cửa phòng mổ. Thông tin duy nhất mà tôi còn biết về chị chỉ còn là chiếc điện thoại này mà thôi. Tôi lại bật lên. Một lời chào xuất hiện trên máy: “Chúc một ngày hạnh phúc”. Tội nghiệp chị của tôi. Chị đã ngày ngày tự chúc cho mình có một ngày hạnh phúc. Tôi bỗng chắp tay nói thầm. “Em chúc chị một ngày hạnh phúc”. Bỗng nhiên, bao nỗi lo lắng trong tôi tan biến. Tôi biết sau vài giờ nữa, chị sẽ được đưa ra khỏi phòng mổ, và tôi, và mọi người trong gia đình, và cả QD nữa, sẽ có một ngày hạnh phúc. 

Viết cho chị tôi 2/2006