Hiển thị các bài đăng có nhãn TRANG DU LỊCH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRANG DU LỊCH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Đi phượt được gì?

Nguyễn Khắc Giang

Như một thủ tục khi nhận lớp mới, giáo sư người Đan Mạch, thầy Flemming Svith, gửi “sơ yếu lý lịch” của mình cho cả lớp xem trước. Lẫn trong các thành tích nghiên cứu khoa học, tôi thấy ngạc nhiên khi lý lịch có ghi hai năm kinh nghiệm “du lịch bụi” (backpacking) ở Nam Mỹ.
Lần đầu tiên tôi thấy một học giả ghi nhận quãng thời gian “lông bông” của mình vào CV. Sau này có dịp nói chuyện nhiều hơn, thầy bảo rất tự hào về hành trình đó. Ông nói đó là hai năm giúp ông tìm ra lẽ sống đời mình.
Thầy Flemming có hai đứa con trai. Người con đầu của ông chết đuối khi đi tình nguyện ở Kenya, bi kịch đến bây giờ tôi vẫn thấy nỗi buồn trong mắt ông. Nhưng ông không cản đứa con thứ hai ra đi khi cậu muốn sang Italy du học. Một người tìm được mình từ những chuyến đi sẽ hiểu được giá trị của nó lớn như thế nào.
Không ít người phương Tây giống như thầy Flemming. Họ đã khao khát khám phá thế giới từ gần một nghìn năm trước, với Marco Polo và “Con đường tơ lụa” nối châu Âu với châu Á. Khi người Việt, người Trung đang bế quan tỏa cảng thì Columbus tìm ra châu Mỹ, rồi Magellan đi vòng quanh địa cầu.
Thế hệ con cháu của họ bây giờ vẫn tiếp tục xách ba lô và du hành khắp năm châu. Với họ, du hành không phải là hiện tượng, mà trở thành một chuyện bình thường. Hầu hết các bạn trẻ đều dành một năm trống (gap year) sau cấp 3 để “đi bụi” trước khi vào đại học hoặc đi làm.
Ở Việt Nam trong vòng chục năm trở lại đây, giới trẻ xê dịch nhiều hơn. Ngồi lên xe máy đi “phượt” đến các miền xa của Tổ quốc, hay xách ba lô du lịch bụi ở nước ngoài, bằng cách này hay cách khác, họ đã dần bước chân ra để nhìn cuộc sống bằng chính đôi mắt của mình.
Trong một nền văn hóa truyền thống đề cao trật tự và ổn định, việc đi lại không chủ đích này nhận nhiều chỉ trích. Có người cho rằng đó là việc vô bổ, phí thời gian. Người thì sợ những hiểm nguy trên đường: từ tai nạn xe cộ cho đến gặp kẻ xấu. Người lại lo con cái mải chơi mà xao nhãng học hành, sự nghiệp.
Cá nhân tôi cho rằng trong cuộc sống, việc gì cũng có chi phí cơ hội: được cái này thì phải mất cái khác. Nhưng tôi nghĩ, dù có tính đến tất cả những rủi ro ở trên, thì việc đi ra, nhìn thấy, và nghe thấy thế giới cũng đáng để làm. Vì cuộc sống không chỉ gói gọn trên màn hình máy tính hay trong bốn bức tường lớp học.
Đi nhiều không đảm bảo cho sự thành đạt, nhưng chắc chắn nó sẽ làm giàu thêm vốn sống của mỗi người. Những người tôi gặp trên các chuyến đi, ở Việt Nam hay nước ngoài, đều nhìn thế giới bằng tấm lòng cởi mở và bao dung với sự khác biệt. Họ kết bạn không phân biệt màu da, chủng tộc, tuổi tác, hay thậm chí là ngôn ngữ. Họ cũng trưởng thành và dễ thích nghi với môi trường sống khác nhau. Trong một thế giới mở như hiện nay, đó có lẽ là những tính cách quan trọng để tồn tại.
Những chuyến đi cũng có hiệu quả trong việc khơi gợi tình yêu đồng bào và xứ sở, thứ mà từ lâu xã hội vẫn cho là đang mất dần đi trong thời buổi kinh tế thị trường. Bởi không có gì đi thẳng đến trái tim nhanh bằng những gì hiện ra trước mắt.
Về miền Tây mùa nước nổi, chúng ta không chỉ thấy đồng quê thanh bình mà cả cuộc sống lam lũ của người nông dân. Lên Hà Giang để chụp ảnh với hoa tam giác mạch và đại đèo Mã Pí Lèng, nhưng cũng để thấy những đứa trẻ không quần áo mặc vẫy tay chào trong sương mù rét căm căm. Những chuyến đi, dù với mục đích gì, đều tạo ra sợi dây gắn bó vô hình với mảnh đất mình đi qua.
Có thể chúng ta sẽ phải trải qua những giây phút mệt mỏi trên đường dài, hay khoảnh khắc đáng sợ như cô gái Việt bị kẹt trong bão tuyết trên dãy Himalaya. Nhưng đổi lại sẽ là những trải nghiệm đáng nhớ và quan trọng hơn, là một con người trưởng thành.
Một nhà triết học cổ đại từng nói “thế giới là một cuốn sách, những người không du hành chỉ đọc duy nhất một trang”. Muốn hoàn thành cuốn sách vĩ đại đó, chúng ta phải đi khi còn có thể.

Nguồn: vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Việt Nam, một ly cocktail hương vị mạnh mẽ

JOHANN FARNHAMMER *

Tôi yêu Việt Nam từ cái nhìn đầu tiên, từ lúc còn là anh chàng “Tây balô” ngơ ngác đặt chân tới đây năm 1994. Việt Nam là điểm đến yêu thích nhất trên thế giới của tôi.   
Nơi đây có sự kết hợp diệu kỳ của những yếu tố văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, ẩm thực, mua sắm, con người. 

Đẹp bất tận
Đến Việt Nam, du khách luôn tìm được giá trị tốt nhất cho đồng tiền của mình. Phở, bia hơi, bánh mì, cà phê sữa đá là những đặc sản mà mọi du khách, từ khách du lịch balô đến những thương gia giàu có, đều khao khát thưởng thức. Vẻ đẹp lịch sử sống động trong từng góc phố, mỗi ngôi nhà và mỗi người dân.
Cuộc sống về đêm ngày càng hấp dẫn với vẻ đẹp của Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Nha Trang hiện ra lung linh cùng với dòng năng lượng tuôn chảy 24 giờ mỗi ngày. Nhịp sống chậm rãi ở Huế, Đà Lạt và Cần Thơ như đưa ta trở về quá khứ.
Những trải nghiệm vô cùng đa dạng ở dải đất hình chữ S này khiến tôi và nhiều du khách quốc tế phấn khích. Cũng như vô vàn món ăn nơi đây, không ai có thể nói rằng mình đã trải nghiệm đầy đủ tinh hoa bản sắc Việt.
Tôi yêu Hà Giang, Hà Nội, Huế, Hội An và đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên mới chỉ đặt chân đến sáu khu rừng quốc gia. Chúng đẹp đến nỗi tôi đang mơ về Cát Tiên và những khu rừng khác.
Nhưng tôi biết những giấc mơ của mình sẽ tiếp tục dài ra với trường lũy Quảng Ngãi và hệ thống hang động tuyệt mỹ ở Phong Nha - Kẻ Bàng... 

Nhưng, “rác” nhiều quá
Không có nơi nào là hoàn hảo và du khách quốc tế cũng thường gặp khá nhiều phiền toái khi đến Việt Nam. Để khách du lịch có thể tận hưởng bản sắc Việt tốt hơn, cần có sự phối hợp và nỗ lực nhiều hơn nữa của những người cung cấp dịch vụ du lịch, các cơ quan chức năng, các phương tiện truyền thông đại chúng và mọi tầng lớp nhân dân.
Bạn nghĩ rằng một người chạy xe ôm có thể ảnh hưởng đến ngành du lịch? Có thể chứ. Công dân Việt Nam nào cũng đại diện cho xứ sở mình và người ấy, trong hành vi và cách ứng xử của mình, đều là một đại sứ du lịch. 
Một người bạn Úc của tôi năm ngoái đã đón xe ôm từ cột cờ Hà Nội về Tây Hồ và bị một người chạy xe ôm “chặt đẹp” với giá 350.000 đồng cho một quãng đường dài vài kilômet. Sau khi biết mình đã bị lừa, người bạn Úc giận dữ thề không quay lại Việt Nam.
Những thông tin anh chia sẻ với bạn bè và trên mạng xã hội chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định tới Việt Nam du lịch của rất nhiều người. 
Ấn tượng đầu tiên luôn vô cùng quan trọng, vì thế việc nâng cấp dịch vụ tại sân bay Tân Sơn Nhất và Nội Bài không thể bỏ qua. Người nước ngoài mới tới Việt Nam thường rất lúng túng khi đếm số tiền hàng triệu đồng, không để ý đến tiền lẻ và hay bị lừa khi đổi tiền tại sân bay.
Lần rồi khi ở Tân Sơn Nhất, tôi bảo với nhân viên quầy đổi tiền còn thiếu bốn mươi ngàn. Cô ấy không nói gì, sa sầm mặt, quẳng tiền lên bàn cho tôi không một lời xin lỗi. 
Dù đã có những bảo tàng xứng tầm quốc tế như Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Việt Nam cần đầu tư nâng cấp nhiều bảo tàng khác để các hiện vật trưng bày có ý nghĩa giáo dục tốt hơn và thông tin tiếng Anh được chính xác, đầy đủ hơn.
Nhiều bảo tàng hiện vẫn hoạt động với cơ chế cũ kỹ của hàng chục năm về trước, buổi trưa thì đóng cửa ngủ trưa rất lâu, chiều thì nghỉ sớm, nhân viên cau có như đang phục vụ trong quán mậu dịch thời bao cấp. 
Việc xây dựng những đập nước thủy điện có thể phá vỡ các di sản thiên nhiên hoặc khiến các thác nước hùng vĩ biến mất. Việt Nam cũng cần cảnh giác để những di sản của mình không lọt vào tay ngoại bang.
Đến thăm thác Bản Giốc, Cao Bằng, tôi vô cùng tiếc nuối vì khách Việt Nam chỉ có thể đứng xa chiêm ngưỡng vì điều kiện hạ tầng quá tệ, còn khách phía bên Trung Quốc thì nhộn nhịp lên thuyền ra thác.
Các trang thông tin du lịch miễn phí như Tripadvior được hàng triệu người sử dụng. Thật tiếc khi nhiều di sản Việt hiện chưa có thông tin trên Tripadvisor. 
Dù Việt Nam đang từng ngày thay da đổi thịt nhưng tôi hi vọng các bạn đừng đánh mất bản sắc văn hóa của mình. Bản sắc văn hóa chính là nguồn tài nguyên bất tận của du lịch.
Những trải nghiệm đẹp nhất của tôi ở Việt Nam chính là việc được ăn tết với gia đình người Việt, uống cà phê với nông dân ở Đắk Lắk và nằm võng nhà sàn tại Mai Châu.
Tôi yêu việc được đi xe máy khắp nơi, để được là một con cá ngụp lặn trong một biển người. Tôi thích đi ra chợ bằng thứ tiếng Việt bập bẹ của mình để các bà, các mẹ cười xòa giảm giá cho tôi. 
Đối với tôi, Việt Nam là một ly cocktail có hương vị vô cùng mạnh mẽ, hòa quyện vị chanh dây, mướp đắng, rau ngò và nước mắm. Tuyệt ngon nếu bạn dám thử

*JOHANN FARNHAMMER (tham tán, trưởng Ban hợp tác phát triển, phái đoàn Ủy ban châu Âu tại Philippines) – nguồn Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Phật ở quán café

Phúc Quỳnh


Tựa bài viết này không là một ý thơ kiểu cọ thời đại, hay một tư tưởng lạ của mấy triết gia, mà chỉ là một sự thật tôi từng được biết nhân đọc báo mấy năm trước. Trong bài viết tuần qua, nhân nói về một cô gái Việt sống ở Unalaska, tiểu bang Alaska, tôi có hứa kể bạn nghe chuyện một pho tượng Phật trắng toát đã phiêu lưu từ miền Trung Việt Nam đến tận thành phố Anchorage ở miền băng giá Alaska. Tượng Phật này được an vị bất đắc dĩ trong một quán cà phê của người Mỹ, và trở thành một biểu tượng cho sự bình an đối với bất cứ ai từng ghé quán Side Street Espresso nằm trên đường G Street.

Tượng Phật ngồi bằng đá cẩm thạch này nặng gần 700 pounds, tức là hơn 310 kí-lô, cao chừng một mét. Sau khi tượng đến quán được một thời gian khá lâu, mùa hè năm 2011, nữ ký giả Julia O'Malley đã viết bài đăng trên báo Anchorage Daily News về pho tượng và người đã mang tượng đến Alaska.

Bà Julia kể rằng vài năm trước đó, ông Suel Jones, một thợ máy về hưu từng làm việc cho hãng dầu BP, đã có cảm tình với một pho tượng Phật được đẽo gọt bởi một nghệ nhân ở bên lề đường trên Núi Ngũ Hành Sơn (người Tây Phương gọi là Núi Đá Cẩm Thạch). Ngày ấy ông Suel đã du lịch đến vùng ngoại ô Đà Nẵng.

“Tôi chỉ nhìn pho tượng và biết rằng mình muốn nó hơn những tượng khác nằm quanh đấy,” ông nói với bà Julia. “Tôi không thể giải thích tại sao tôi thích tượng Phật ấy, có lẽ vì nét mặt, có lẽ vì chất liệu, tôi không thật sự hiểu.”

Thế rồi ông nói thêm rằng tượng gợi nhớ một thời quá khứ bất ổn khi ông là một người lính Thủy Quân Lục Chiến trẻ tuổi mới đến Việt Nam. Ông nhớ rõ một ngày nọ khoảng 40 năm trước, khi ông và các đồng đội tiến vào một ngôi làng gọi là Cam Lộ.

“Có một ngôi chùa bị bắn nổ tan tành,” ông kể.

Trong ngôi chùa tan hoang ấy, ông thấy một pho tượng Phật ngồi vững vàng, thanh tịnh giữa những đổ nát của chiến tranh. Điều đó khiến ông nghĩ đến những gì đang xảy ra cho đất nước Việt Nam, cho con người và cho truyền thống từ ngàn xưa của họ.

Tượng Phật cẩm thạch trông quen thuộc với ông vì lẽ ấy. Có lẽ vì nụ cười của Phật, như là vị Phật mà ông từng thấy lần đầu 40 năm trước nay bỗng trở về với ông. Cựu quân nhân này cảm thấy trong lòng một sự biết ơn mà ông không hề nghĩ mình có trước đây, về sự có mặt của Phật trong đời ông.

Thế là ông Suel đồng ý mua tượng Phật với giá $500. Ông tốn thêm gấp đôi số tiền để cho người ta chuyên chở tượng đến Alaska. Khi mua tượng thì ông không thật sự biết mình sẽ làm gì với nó. Chắc đặt ở ngoài vườn tại căn cabin của ông ở Glacier View, ông nghĩ vậy. Căn cabin và cũng là nhà của ông nằm cách xa Anchorage khoảng 100 dặm nằm trên bang lộ Glenn Highway. Khi tượng Phật đến Alaska, ông Suel đã lái một chiếc pickup và chở tượng ở đằng sau trong suốt mấy ngày. Lái xe đến đâu ông cũng gây chú ý. Ai ai cũng tò mò nhìn pho tượng Phật trắng ngần nằm trên xe của ông Suel. Ở các ngã tư đèn đỏ và ở trạm xăng, người lạ bước đến gần và hỏi ông về pho tượng ấy. Ai cũng thắc mắc, không biết tại sao ông Suel này lại mang Phật đến Alaska.

“Họ không ngần ngại khi bước đến và sờ tượng Phật ở đằng sau xe của tôi,” ông kể.

Ông đã chở Phật xuống phố đến quán cà phê Side Street Espresso, nơi mà ông là một khách hàng quen mặt trong hơn 20 năm. Ông muốn hai chủ nhân George Gee và Deb Seaton được thấy tượng. Bà Deb cho rằng tượng này nên đặt trong bảo tàng viện.

“Tôi đã xúc động đến muốn khóc,” bà Deb kể với ký giả Julia. “Tượng Phật sao mà đẹp quá.”

Thế rồi ông Suel xét lại, nghĩ rằng tượng Phật này không thể đặt ở một khu vườn hẻo lánh. Trong thời gian gần đây, ông sống nửa năm tại Glacier View và nửa năm còn lại ở Việt Nam, nơi ông làm việc với các hội cứu chiến binh của người Mỹ. Ông đã lập ra một hội chuyên trợ giúp các cựu chiến binh ở Alaska, bất kể họ trở về từ cuộc chiến nào trên thế giới. Tại Việt Nam thì ông phụ giúp trong công tác tháo gỡ mìn, xây nhà chơi cho trẻ em.

Ban đầu ông nghĩ đến việc bán tượng Phật để gây quỹ cho hội, và dùng tiền để làm thêm việc thiện ở Việt Nam. Cặp chủ nhân George và Deb đề nghị ông để Phật ở trong quán cà phê trong lúc chờ người mua.

Xe cần cẩu từng được dùng để đưa tượng Phật lên xe của ông. Giờ đây ông và hai người bạn không có xe cần cẩu để mang tượng xuống. Họ vận động thêm vài người bạn đến giúp một tay. Thế nhưng pho tượng nặng 700 cân chỉ có thể được mang từ trên xe xuống mặt đất, không thể nào khiêng vào bên trong quán cà phê. Mọi người nặn óc, đưa ra những sáng kiến. Thế nhưng đề nghị nào cũng thất bại. Tượng quá nặng so với sức của họ.

Thế rồi đúng lúc mọi người đành bó tay, chưa biết phải di chuyển Phật như thế nào, thì bỗng nhiên có hai ông lái xe mô-tô phóng qua. Ông nào cũng có đôi tay vạm vỡ đầy bắp thịt rắn chắc như cầu thủ chơi football. Hai ông mặc áo da đi xe mô-tô này đã phóng xe qua và rồi vòng xe lại vì muốn quan sát một bức tượng mà họ thấy xuất hiện kỳ lạ ở nơi đây. Khi biết nhóm ông Suel cần khiêng tượng vào trong tiệm, hai ông lái xe mô-tô liền ra tay giúp.

“Hai người này gần như tự họ khiêng Phật vào bên trong, không cần ai giúp,” ông Suel nhớ lại.

Thế là Phật được an vị trong quán cà phê Side Street như vậy. Họ đặt tượng giữa một tủ lạnh và một chiếc bàn với khăn ca-rô phủ bên trên. Hai năm trôi qua.

“Chúng tôi không may mắn trong việc bán tượng,” ông Suel kể. “Giống như là tượng đã quyết định ở lại đây, không muốn đi đâu hết.”

Quán Side Street có rất đông khách lui tới thường xuyên, và hầu như ai cũng cảm thấy thân quen với tượng. Họ thường ve vuốt những nếp y trên tượng. Đôi vai của Phật không còn bóng loáng vì có quá nhiều dấu tay sờ bên trên. Thế rồi họ dần dần đặt thêm đèn cầy ở cạnh tượng, choàng thêm vòng hoa trên Phật và biến góc nhỏ này thành nơi thờ phượng.

Khi được hỏi ý ông nghĩ sao về việc bức tượng thu hút người ta đến như vậy, ông Suel trả lời, “Có lẽ nước Mỹ chúng ta đang trải qua quá nhiều vấn đề rối rắm.” Ông nhắc đến nền kinh tế lúc ấy không được khá, chính trị bị chia rẽ, và có rất nhiều cựu quân nhân trở về từ hai cuộc chiến mới nhất. Ai cũng tìm cách thấu hiểu những gì đang xảy ra ở chung quanh họ.

“Họ cần bất cứ cái gì có thể cho họ một cảm tưởng bình yên, tĩnh lặng,” ông nhận xét.

Ông chủ George Gee dậy sớm mỗi ngày để vẽ chân dung và viết thực đơn cho món đặc biệt trong ngày trên một tấm bảng nhỏ. Là một họa sĩ, ông thường vẽ khuôn mặt của những nhân vật thời sự trong ngày kèm thêm lời châm biếm hài hước để mua vui thực khách. Chẳng hạn như mới đây ông George vẽ mặt anh chàng Edward Snowden để quảng cáo cho một món nước uống có pha thêm hương vị dừa “coconut,” để ám chỉ hành động dại khờ của anh khi tiết lộ hàng ngàn tài liệu mật của chính phủ Mỹ, để rồi phải trốn chạy qua Hồng Kông và nay bị mắc kẹt ở Nga.

George nói rằng tượng Phật đã trở nên quá thân thuộc với ông trong những lúc ông cần suy nghĩ nhất trong ngày. Ông nói quán cà phê luôn có một nguồn năng lực riêng của nó, và tượng Phật đã thật phù hợp trong không gian này.

“Tượng hình như đã có sẵn một năng lực huyền bí từ lâu,” ông nói. Lực đó đã khiến những tay anh hùng lái xe mô-tô phải rời xe của họ, và cũng có thể đã khiến một người quyết định đưa pho tượng nặng 700 cân đi nửa vòng trái đất đến đây, ông George nghĩ vậy.

Vào khoảng tháng Sáu năm 2011, những thân chủ của tiệm đã mau chóng truyền tin với nhau rằng có người đã trả giá mua tượng Phật và sắp mang tượng rời quán cà phê. Họ cảm thấy luyến tiếc khi nghĩ đến việc một ngày kia Phật không còn ngồi ở chỗ quen thuộc trong quán. Thế rồi khoảng hai tuần sau đó, một thân chủ đến uống cà phê như mọi lần. Khi mở bóp lấy tiền trả nước uống, ông cầm ra $3,000. Ông muốn mua tượng Phật với một điều kiện, ông George kể. Điều kiện duy nhất ấy là Phật phải ở trong tiệm này, không đi đâu hết.

Ông Suel đồng ý. Số tiền bán tượng ấy đã được ông Suel mang đến miền Trung Việt Nam để tiếp tục công tác từ thiện của hội Cựu Chiến Binh Cho Hòa Bình (Veterans for Peace).

“Tôi rất ngạc nhiên, bạn biết chăng,” ông Suel kể. “Nhưng rồi tôi cũng hiểu, tôi thấy rằng ông ấy cũng muốn chia sẻ tượng với mọi người.”

Thế nên giờ đây Phật vẫn còn an vị trong một quán cà phê nằm trên đường G Street ở Anchorage, Alaska, không ngồi trong một ngôi đền hoặc một ngôi chùa nào xa thế gian. Phật ngồi đó, tiếp tục thiền định với ánh mắt từ bi hướng về những người đang thảnh thơi thưởng thức một tách cà phê ấm hoặc bận chăm chú xem màn ảnh của điện thoại, với nét mặt đẹp sáng ngời, và với một nụ cười thân thuộc luôn mang đến sự bình yên. (pq)


VienDongDaily.Com 
17/06/2014

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

Các nhà sư “thần hành” trên đỉnh núi Hiei

Bức ảnh hiếm hoi về một Gyoja thực thụ đang trên đường chinh phục “Thử thách một ngàn ngày”.

Dưới chân ngọn núi Hiei hiểm trở phía đông bắc cố đô Kyoto, ngày nay vẫn tồn tại một ngôi đền thiêng 1.200 tuổi được gọi làEnryakuji. Các vị thiền sư theo trường phái Tendai-shu (Phái Thiên Thai - một dòng tu thuộc Phật Giáo Đại Thừa), từ xa xưa đã nổi tiếng là những bậc “thần hành” với khả năng đi bộ đến hàng ngàn dặm.
Những kỳ tích công phu của họ không phải chỉ là lời đồn mà từng nhiều lần được kiểm chứng và ghi chép trong lịch sử. Nó khiến cho ngay cả những vận động viên marathon Olymlic hàng đầu ngày nay cũng phải ngả mũ chào thua. Tendai-shu vừa là một trường phái tu hành, lại vừa giống một “công phu” huyền bí được các bậc cao tăng nơi đây lưu truyền đời này sang đời khác.
Không phải mọi nhà sư tại đền Enryakuji đều có thể tu tập Tendai-shu. Chỉ một số ít người sau khi lựa chọn cẩn thận mới được phép tham gia “khóa học” gọi là Sennichi Kaihogyo, hay “Thử thách một ngàn ngày” kỳ bí.
Sennichi Kaihogyo xứng danh là một trong những thử thách nghiêm ngặt và khó khăn nhất thế giới, về cả thể chất lẫn tinh thần.
Những thử thách khắc nghiệt kéo dài liên tục trong vòng 7 năm. Người tham gia sẽ phải vượt qua quãng đường lớn hơn một vòng quanh trái đất, chỉ nhờ đôi chân cùng với đức tin.
Các nhà sư thực hiện cuộc hành trình cam go này với ý nghĩa để tôn kính Fudo-myo-o, vị thần quan trọng nhất của trường phái Tendai (Thiên Thai). Nó giống như một cuộc hành hương với các điểm đến là những di tích linh thiêng rải rác khắp ngọn núi Hiei hùng vĩ.
Hành trình của các “Gyoja” (tên gọi những nhà sư tham gia thử thách) bao gồm hơn 250 điểm đến, phần lớn nằm giữa những vùng rừng núi thâm u. Tổng cộng quãng đường mà họ phải trải qua được ước tính dài gấp 1.000 lần cự ly marathon tiêu chuẩn (cự ly marathon tương đương 26 dặm hay 42 km).
Gyoja thường duy trì một tốc độ rất ổn định suốt cả chuyến đi. Họ không chạy, nhưng một người đi bộ bình thường sẽ không thể nào theo kịp. Đối với những nhà sư kỳ lạ này, đi bộ cũng chính là một phương pháp thiền định, chủ yếu dựa vào sự tập trung và sức mạnh tinh thần.
Tư thế khi đi cũng là một điều rất quan trọng. Nhà sư phải giữ cho lưng và hông luôn luôn thẳng đứng. Họ di chuyển rất nhanh trong khi chiếc mũ trên đầu gần như bất động, ngay cả trên những đường dốc hoặc mấp mô. 
Trong 3 năm đầu của cuộc hành trình, những nhà sư thường đi bộ khoảng 30-40 km một ngày trong 100 ngày liên tục, bất kể thời tiết ra sao.
Đến năm thứ 4 và thứ 5, quãng đường phải đi trong ngày dần tăng lên. Đồng thời mỗi khi gặp các địa điểm linh thiêng, họ đều phải dừng lại để tiến hành tụng niệm đầy đủ theo lễ nghi quy định.
Hơn 250 địa điểm linh thiêng trên đường đi mà các nhà sư bắt buộc phải tìm đến để làm lễ, trong đó bao gồm các thác nước, dòng suối, những cây cổ thụ, giếng thiêng, đền miếu.
Trang phục hành hương của các Gyoja cũng hết sức giản dị. Họ mặc một bộ đồ bằng vải thô, khoác bên ngoài chiếc áo choàng màu trắng, đầu đội mũ rơm truyền thống có tên gọi renge-gasa, mang vớ tách ngón chân và một đôi giầy cỏ.
Mỗi Gyoja có thể đem theo một tiểu đồng, chủ yếu để cầm đèn soi đường cho nhà sư khi di chuyển vào ban đêm. Vào những ngày mưa gió, họ có thể đi cho đến rách nát một đôi hài cỏ chỉ trong vòng một ngày. Cuộc hành hương của các Gyoja quả thực là một thử thách hết sức đáng sợ, đến nỗi nó được mệnh danh là “chuyến đi địa ngục”.
Các nhà sư thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn, những vết thương mưng mủ không được chữa trị, hai bàn chân phồng rộp lở loét, thậm chí có thể bị nhiễm trùng thành các vết thương rất nặng… Tuy nhiên, không gì có thể ngăn cản những bậc chân tu kỳ lạ này tiếp tục cất bước.
Vào năm thứ 5 của cuộc hành trình, các Gyoja còn phải tiến hành một nghi thức chay tịnh đặc biệt, gọi là “do-iri”. Trong 9 ngày liên tiếp, họ sẽ không ăn, không uống và không ngủ, chỉ miệt mài tụng niệm một câu thần chú suốt ngày đêm.
Hai giờ sáng hàng đêm, họ sẽ ra ngoài lấy nước để dâng cúng. Khi đó nhà sư được phép hớp một ngụm nước, nhưng lại không được uống mà chỉ súc miệng sau đó nhổ ra.
Cho đến ngày thứ 9, Gyoja đã trở nên quá yếu nhưng phải dựa vào sự trợ giúp của người khác để tiếp tục lên đường. Quá trình nhịn ăn lâu ngày khiến cho cơ thể họ dường như đã cận kề cái chết.
Đây có thể coi là thử thách khổ hạnh nhất, mà người ta thường gọi là “đám tang sống” trong cuộc hành trình. Cách duy nhất để có thể vượt qua là hoàn toàn tin tưởng vào Fudo-myo-o hiển linh phù trợ.
Năm thứ 6, các Gyoja thực hiện những chuyến đi 60 km mỗi ngày, trong 100 ngày liên tiếp. Năm thứ 7 cũng tương tự nhưng quãng đường đi tăng lên thành 84 km mỗi ngày.
Giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình vẫn là thử thách đi bộ 100 ngày liên tiếp, nhưng quãng đường được rút ngắn xuống còn 30-40 km mỗi ngày, cho đến khi về tới đích.
Cho đến ngày nay, chỉ 50 nhà sư đã hoàn thành trọn vẹn “Thử thách một ngàn ngày”, kể từ khi truyền thống này được bắt đầu vào năm 1585. Rất nhiều người thậm chí đã chết trong cuộc hành trình đi tìm giác ngộ.
Một khi đã bắt đầu chuyến đi, nhà sư sẽ không được phép dừng lại vì bất cứ lý do gì. Các Gyoja thực sự mang theo một sợi dây thừng và một con dao nhỏ. Chỉ những thứ đó mới giúp họ kết thúc cuộc hành trình khi chưa tới cái đích đặt ra.
Nhưng khi một Gyoja hoàn tất “Thử thách một ngàn ngày”, ngay lập tức ông sẽ trở thành “Dai-ajari”, một vị Bồ tát sống.
Một trong những Dai-ajari nổi tiếng nhất là Yusai Sakai, vị thiền sư sinh năm 1926 và mới chỉ viên tịch vào năm 2013. Yusai Sakai thậm chí còn thực hiện thành công “Thử thách một ngàn ngày” đến hai lần trong cuộc đời.
Trước khi trở thành tu sĩ, Sakai từng là một phi công phục vụ quân đội Nhật trong Thế Chiến II. Chính những ám ảnh về chiến tranh đã khiến ông quyết định đi tu và sau đó trở thành một Gyoja. Câu chuyện cuộc đời của ông đã trở thành cảm hứng cho rất nhiều cuốn sách.
“Thông điệp tôi muốn truyền đạt là, hãy sống mỗi ngày như thể đó là toàn bộ cuộc đời của bạn. Nếu bạn bắt đầu một điều gì đó hôm nay, thì hãy hoàn thành nó hôm nay. Ngày mai là một thế giới khác. Hãy sống một cách tích cực”, ông răn dạy.
Các nhà sư “thần hành” trên đỉnh núi Hiei được coi là những anh hùng vĩ đại ở Nhật Bản. Rất nhiều người xem họ như là nhà lãnh đạo tinh thần.
Chỉ có điều là mấy chục năm nay vẫn chưa một Gyoja thế hệ mới nào dám dấn thân vào con đường thử thách, để tiếp bước những vị chân tu tiền bối.

ThaiHo/vtcnews

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

Kiến Thức Du Lịch Nên Có Về Đất Nước Việt Nam

Hội An - mưa và lụt

Bài này còn có tên: “Suy nghĩ của người Tây về du lịch Việt Nam” viết dựa trên quan điểm của du khách nước ngoài nên có nhiều điểm không nhất thiết phải phù hợp với người Việt. Hy vọng bài viết ít ra cũng có vài điều bổ ích cho Việt kiều, cho người Việt ở VN (khi nói chuyện với người nước ngoài) và nhất là hàng trăm ngàn người có công ăn việc làm liên quan đến nghành du lịch.
***
Phần I: Những nét đặc biệt về du lịch Việt Nam
Giả sử có một người ngoại quốc nói, “Tôi đang nghĩ tới việc du lịch VN, vậy bạn hãy làm ơn giới thiệu cho tôi về đất nước của bạn.” Tôi dám cam đoan có ít nhất 90% Việt Kiều không đủ kiến thức để thuyết phục vị khách dù có khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Còn người trong nước thì sao? (giả sử tiêng Anh của họ không tệ) Có lẻ cũng same same but different.
Có thể nói người Việt thuộc thế hệ trưóc rất ít khi đi du lịch và nếu có đi thì cũng rất sơ sài, chỉ cần có mặt và nhìn sơ qua là đủ, nhưng nghành du lịch thời đó chỉ là con số không. Thế hệ bây giờ đang được quốc tế hoá. Họ vạch định chương trình rõ ràng trước khi tác chiến, họ lên mạng tìm hiểu nghiên cứu đầy đủ về lịch sử, phong tục tập quán, đặt câu hỏi với cư dân mạng nếu có thắc mắc và ghi chép lại mọi diều trong chuyến đi. Theo tôi, cách đi du lịch của một ít bạn trẽ thời nay có những thú vị đặc biệt của nó (đây cũng chính là du lịch kiểu Tây). Tuy nhiên DL kiểu này chưa phổ biến lắm vì vậy trước tiên cần phải nắm bắt tâm lý du lịch, nắm bắt nhu cầu của người Tây thì sự quảng cáo hay hướng dẫn du lịch của ta mới đạt được nhiều hữu hiệu.
Nếu bạn để ý thì sẽ thấy nhiều người Tây khi đi du lịch hay cầm theo quyển sách và thỉnh thoảng lại dỡ ra xem. Đó là sách hướng dẫn đó bạn à. Hướng dẫn từng ly từng tí, ví dụ như ăn ở đâu, bao nhiêu cho một bửa ăn, khách sạn nào phục vụ tốt, địa điểm tiện lợi, giá cả thế nào cho một ngày; đi xe ôm, taxi bao nhiêu từ downtown đến một địa điểm du lịch, bến xe buýt, ga xe lửa vân vân; trả giá thế nào, vé vào cửa bao nhiêu, có bao nhiêu loại vé tàu, có bao nhiêu chuyến tàu mỗi ngày. Nơi nào đáng tham quan tại mỗi tỉnh trên toàn cỏi của Việt Nam. Tóm lại, tất cả mọi thông tin cần thiết về du lịch đều nằm trong cuốn sách đó.
Nói về các điểm tham quan nổi tiếng, chúng ta có quá ít công trình kiến trúc, nghệ thuật và xây dựng để tự hào giới thiệu với người nước ngoài. Kinh Thành Huế, Văn Miếu, Hoàng Thành Thăng Long, Tháp Chàm ở Mỹ Sơn, và vài lăng mộ ở Huế đều là những thắng cảnh hạng trung bình. Vì vậy ta nên tập trung giới thiệu về cảnh thiên nhiên. Thật vậy, nước ta có nhiều phong cảnh thiên nhiên đẹp, đặt biệt và đa dạng hơn các nước trong khu vực. Tôi xin đơn cử sau đây:
1. Đi thuyền chèo trên những con kênh rạch nho nhỏ ở đồng bằng sông Cửu Long xuyên qua những cây cầu khỉ. Bảo đảm ai cũng muốn đi thật nhiều, thật lâu. Đa số những tua du lịch rẽ tiền hiện tại không thoả mãn trọn vẹn nhu cầu này.
2. Ở Mủi Né có những đụn cát, có dòng suối chảy xuyên qua vách núi (canyon) y như là đang ở nơi nào đó chứ không phải VN hay Đông Nam Á. Đặc biệt, đúng không!
3. Đà Lạt nằm ở 1500m cao hơn mực nước biển. không có một thành phố trên cao như vậy ở ĐNA, TQ, vv, với đầy dẫy những nông trại chuyên về hoa, rau và những đồn điền cao su, cafe. Easy Riders cũng là đặc sản Dà Lạt và VN, rất nhiều trong bọn họ là những tua guide số một của VN.
4. Phố cổ duy nhất của VN: Hội An ấm áp, thanh bình, kiến trúc cổ thật đẹp và hấp dẫn. Nhiều du khách hay ví Hội An như Disneyland của VN. Nơi đây có nhiều quán ăn ngon và là thiên đàng tailor made clothes đối với các bà các cô. Nhiều người thích bải biển Cửa Đại vì nó sạch, ít sellers và vắng người. Dân ghiền party thì ưa biển Nha Trang hơn. Cũng có một số người không thích HA, vì họ cho là không thực – nó không giống nơi khác của VN.
5. Phong Nha – Kẻ Bàng có hàng trăm hang động lớn và đẹp số một nhưng rất tiếc không tiện đường và thăm 1-2 cái ở Hạ Long bay là tạm đủ – họ không có nhiều thời giờ, còn nhiều nơi hấp dẫn khác.
6. Đứng trên đỉnh núi đá vôi ở Ninh Bình nhìn xung quanh để thấy giống như Hạ Long trên cánh đồng lúa bất tận, hay đi thuyền chèo êm ả hơn hai tiếng đồng hồ quanh co xuyên qua bao nhiêu thửa ruộng và những hòn núi đá vôi cùng với những hang động. Một chuyến đò xứng đáng có 1 không 2, nhưng rất tiếc Tam Cốc chưa thu hút nhiều du khách. Lý do khác là vì 2 nơi giống nhau nhưng HL bay nỗi tiếng hơn, thú vị hơn.
7. Hà Nội có thể là thành phố lớn duy nhất ở ĐNA còn lưu lại nét rất Á Đông, nhất là với những con đường nhỏ hẹp ở khu phố cổ cùng với hồ Hoàn Kiếm nằm ngay giửa lòng thành phố, cọng nhiều con đường với những hàng cây cổ thụ và những biệt thự từ thời Pháp. Các bạn sinh viên thuộc nhóm Hanoikids từ 4 năm nay đã nổ lực giúp du khách thập phương hiểu rằng HN vẫn còn nhiều người thân thiện và cư xử văn minh đối với du khách.
8. Chỉ có ở VN mới có tổ chức sinh viên học sinh tình nguyện làm hướng dẫn viên free cho người nước ngoài. HN có Hanoikids, còn SG có Saigon hotspots.
9. Nhiều du khách rất thích ghé vào công viên 29/5, trước chợ Bến Thành, để nói chuyện và tìm hiểu về văn hoá VN với các bạn sinh viên, học sinh vào mỗi buổi chiều.
10. Ở miền bắc có nhiều nơi đẹp, tuy nhiên Sapa phát triễn hơn cả vị nơi đây đã có sẵn cơ sở từ thời Pháp để lại kể cả phương tiện xe lửa từ Hà Nội lên. Không có nơi nào ở ĐNA và rất ít nơi trên thế giới tương tự như Sapa khi nói về cảnh thung lũng, rừng núi đẹp như thơ, những thửa ruộng bậc thang đẹp như vẻ, cọng với số lượng người dân tộc mặc y phục cổ truyền. Đi hiking 5-10 Km xuyên qua những cái ruộng, thung lủng, sông suối, sườn núi và những ngôi làng cùng với những cô gái dân tộc để thấy rằng họ không học từ trường lớp, nói tiếng Việt còn bập bẹ nhưng họ nói tiếng ngoại quốc còn giỏi hơn nhiều tour guides người Việt. Sự chịu khó, thành thật, thân thiện và kiên nhẫn trong cách bán hàng của các cô gái người thiểu số cũng là việc đáng để cho người thuộc dân tộc Kinh tự suy ngẫm và học hỏi.
11. Hạ Long đẹp khỏi phải nói. Cái đặc biệt không thể bỏ qua là ngủ đêm trên tàu, leo lên đỉnh núi ở đảo khỉ hay công viên trên đảo Cát Bà để nhìn thấy trùng trùng những đỉnh núi của vịnh. Chèo thuyền vào bên trong lagoon (dưới sự hướng dẫn của guide), nhảy xuống biển từ boong tàu, hát karaoke ngắm mặt trời mọc và lặn, ăn đồ biển. Nếu có thời giờ hãy đăng ký leo núi cho trọn vẹn chuyến đi.
12. Nói về cảnh đẹp tuyệt vời hiếm thấy của núi, Hà Giang với doạn đường giửa Đồng Văn và Mèo Vạc hay đèo Trầm tôn nằm trên độ cao 1990m, giữa Sapa và Lai Châu. Cảnh đẹp của núi và biển chúng ta có đèo Hải Vân nỗi tiếng với khách du lịch bốn phương. Đoạn đường xe lửa VN băng qua đoạn này thuộc một trong những đoạn đường đẹp nhất thế giới. Bảo đảm ở DNA không có cái đèo nào đẹp như 3 cái này.
13. Bải biển ở VN nói chung không hấp dẫn như ở Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã lai và Indonesia vì dân Việt mình vứt rác lung tung, cát không trắng lắm và nước biển không trong. Tuy nhiên, bải biển VN rất tiện lợi vì nó nằm trên lộ trình du lịch. Có những nơi khá hơn như Dốc Lét, đảo Voi, Phú Quốc và Côn Đảo thì lại có quá ít du khách vì không nằm trên lộ trình.
14. Có một chuyện mà người mình nên biết là du khách rất thích chiêm ngưỡng những kiến trúc Pháp thời thuộc địa còn lại, từ những toà nhà to lớn cho đến những ngôi biệt thự. Việc này cũng tăng thêm một điểm cho VN, vì khắp ĐNA chỉ có Lào và Cambodia là có nhà kiểu Pháp, nhưng chỉ có Sài Gòn và Hà Nội là có những toà nhà chính phủ thuộc địa và nhà thờ to lớn hơn cả.
15. Địa đạo Củ Chi và Viện Bảo Tàng Chiến Tranh tại thành phố Sài Gòn là hai nơi tốt nhất để tìm hiểu về chiến tranh VN. Có thể nói đây là hai cái bảo tàng ăn khách nhất Viẹt Nam, đồng thời cũng là nơi duy nhất trên thế giới về chiến tranh VN. Bảo tàng các dân tộc thiểu số ở Hà Nội được đánh giá rất cao. Bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng cũng không tệ, nhưng không tiện đường cho du khách quốc tế.
16. Thức ăn Việt ngoài phở còn nhiều món đặc biệt du khách ưa thích. Do bị Pháp đô hộ nên VN có nhiều món ăn uống nỗi tiếng không tìm thấy được ở các nước châu Á khác ngoại trừ Cambodia và Lào. Đó là bánh mì baguette, patisserie và cafe.
17. Nhiều người Âu Mỹ ăn kiêng nên họ rất thích những quán cơm chay ở VN. Nên nhớ là Phật giáo VN không giống như ở những nước Ấn Độ, Tibet, Sri Lanka, Burma, Lào, Thái Lan, Cambodia. Người dân kể cả các vị tu hành ở những nước vừa nêu không có khái niệm về sự ăn chay. Vì vậy, những quán cơm chay đúng nghĩa chỉ có ở VN.

http://songtra.wordpress.com/

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Bánh ướt nhà quê

Đào thị Thanh Tuyền


Thành Diên Khánh cách Nha Trang khoảng 10km về phía Tây Nam, là một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Khánh Hòa. Ở đây ngoài di tích Thành cổ, còn có các di tích khác như chùa Thiên Lộc, miếu Trịnh Phong, các thắng cảnh như: núi Chúa (Đại An), khu du lịch Hòn Bà, Suối Tiên, suối Đá Giăng, suối Đảnh Thạnh….
Một món ăn nổi tiếng của Diên Khánh được bán ở các quán dọc theo Quốc Lộ I A (đoạn ngang thị trấn), làm thành một dãy phố có tên gọi là bánh ướt Thành hay bánh ướt Diên Khánh. Đây gần như là một “làng nghề” nổi tiếng gần nửa thế kỷ nay mà người dân địa phương còn gọi là bánh ướt Phú Khánh (lấy theo tên gọi của làng này). Do “tốc độ công nghiệp hóa”, cái ngon của bánh ướt xưa truyền thống ở khu vực này dần mai một đi. Tuy nhiên, nếu du khách chịu khó lang thang khám phá Diên Khánh sẽ thấy được nhiều quán bánh ướt kiểu nhà quê rất dân dã, rất… Thành và rất ngon!
Ở Diên Khánh nhiều nhà vườn, đất rộng. Những quán bánh ướt có lợi thế này thường “bày binh bố trận” rất “nghênh ngang” theo kiểu nhà quê. Quán trước nhà (mái lợp tranh hay mái tôn), lò tráng bánh đắp bằng đất và những bộ bàn ghế rất sơ sài; tuy nhiên, dân trong xóm hay khách du lịch đến đây đều có được một không khí xóm làng đầm ấm, thân thiết.
Nếu bánh ướt Phú Khánh chuộng hình thức với chiếc bánh khi tráng ra bày rất mỏng trên dĩa và nhân là ruốc tôm, hành mỡ; nước chấm là mắm nêm, mắm nước…, thì dĩa bánh ướt nhà quê chẳng cần hình thức cầu kỳ! Một cái bánh vớt ra từ lò, người tráng bánh cứ thế mà “suốt” vào dĩa (trông thấy dày cui!). Nhân ở đây ngoài hành mỡ còn có đậu xanh làm nên cái ngon đặc trưng khác của bánh. Ngày xưa bánh ướt Diên Khánh đủ bộ “tam sên”: hành mỡ, đậu xanh, ruốc tôm. Giờ đây người ta đã giản lược đi chỉ còn hai thứ - nếu có đậu xanh thì không có ruốc tôm hay ngược lại. Cái ngon của các quán bánh ướt nhà quê là nước chấm. Đặc biệt là mắm ruột!
Cá bò, cá ngừ tươi xanh, mua về lấy ruột, sau đó ướp muối và ủ , rồi đem phơi nắng. Khoảng 2-3 ngày mắm chín , thành chất lỏng sệt và có mùi thơm rất đặc trưng. Lúc này ngon do tài pha chế! Dầu mỡ tao qua hành, tỏi cho thơm rồi đổ mắm ruột vào nêm nếm gia vị. Mỗi quán có mỗi chiêu làm mắm và nêm nếm riêng, nhưng cái đặc trưng là hương vị mắm ruột hầu như rất giống nhau. Không như mắm nêm, bánh ướt ăn với mắm ruột có cái ngon thanh tao hơn và không có mùi mắm! Thêm ít xoài bằm, dằm trái ớt xiêm… 2000đ/dĩa, người ăn “yếu” chỉ cần 2-3 dĩa là no, khách ăn “mê” có thể đến chục dĩa!
Nhà quê hơn nữa, ở vùng các Thanh Minh, Phú Lộc…. còn độc chiêu với nước chấm có thêm ít nước cá! Thường là loại cá liệt con nhỏ, nấu ngọt - thế thôi nhưng cũng làm thêm một vị ngon đặc trưng khác nữa của món bánh ướt. Nhìn cách ăn rất “sành điệu” của mấy ông bà già nhà quê khách khó tính cách mấy cũng phải… thèm. Này nhé, múc chén mắm, múc thêm muổng nước cá và gắp ít con cá cho ra dĩa. Trong khi chờ dĩa bánh mang ra, các cụ thủng thỉnh vẽ cá. Loại cá liệt nhỏ xíu, chủ yếu là lấy nước ngọt, vậy mà các cụ cũng vẽ hết thịt con cá chỉ còn trơ bộ xương. Mới thấy cái ăn của người xưa khéo léo, tinh tế và tiết kiệm vô cùng, ăn theo kiểu để dành cho con cháu, không được hoang phí!
Ngày rằm, mùng một có thêm nước tương dành cho người ăn chay. Nước tương ở đây không phải là xì dầu mà là nước chấm làm từ tương hột đậu nành và mỡ hành được thay bằng dầu ăn với ba – rô. Chế biến nước tương cũng là một bí quyết phải là dân Thành chính gốc làm mới ngon. Xả bằm nhuyễn, cùng với cà chua, thơm … Tao qua dầu rồi sau đó bỏ tương vào nấu, nêm nếm gia vị… Công thức chỉ có từng ấy, nhưng qua tay người chế biến lành nghề, món nước chấm ngon tuyệt vời. Ăn một lần khó quên!
Trên đường Nha Trang – Thành, gần cầu ông Bộ có quán bánh ướt kiểu này, ngon không thể tả được!
Khách vào quán, thủng thỉnh kéo ghế, lau đũa. Người phục vụ nhanh chóng đưa đến một cái chén có bỏ ít mỡ hành. Có hai hủ mắm cho khách lựa chọn: mắm ruột và mắm nước. Khách mở nắp hủ mắm ruột, múc ra chén một, hai vá; dằm trái ớt xiêm và bỏ thêm gắp xoài bằm (nếu không ăn xoài thì vắt miếng chanh). Dĩa bánh ướt vừa suốt ra bốc khói, người bán hàng nhanh chóng múc muổng mỡ hành đưa qua một lượt và rưới vòng quanh một lớp đậu xanh bưng đến. Khách thủng thỉnh lấy đôi đũa xẻ ngang rồi xẻ dọc và cứ thế gắp từng miếng chấm vào chén mắm, hết dĩa này đến dĩa khác!

Nghề bánh ướt có thể giải quyết được phần nào kinh tế gia đình, nuôi con ăn học. Che cái quán, đắp cái lò, đóng ít bàn ghế gỗ tạp là đủ, không cần vốn liếng nhiều mà chỉ cần … tài pha chế nước chấm sao cho ngon!

http://www.ninhhoatoday.net/

Nhà Sách Đẹp Nhất Thế Giới!

Nếu chỉ nhìn những bức ảnh này hẳn không quá lời nếu gọi đây là hiệu sách đến từ thiên đường và không hổ danh là hiệu sách đẹp nhất thế giới.
Hiệu sách có cái tên khó phát âm rất đặc trưng của tiếng Hà Lan: Selexyz Dominicanen. Hoàn thành vào năm 2007, hiệu sách này vốn là một nhà thờ rất đẹp và nổi tiếng, đã được thánh hiến vào năm 1294 thuộc dòng Dominic, nhưng nay đã không còn hoạt động nữa và được chuyển đổi.
Trước khi không gian này có được vẻ đẹp như hiện nay, nó đã từng là nhà kho chứa xe đạp, cửa hàng bán đồ giáng sinh, … và là địa điểm tổ chức các sự kiện. Thế nhưng nhờ vào óc nhạy bén của Hội kiến trúc sư Merkx và Girod (do Evelyne Merkx và Patrice Girod làm chủ tịch) mà giờ đây những khách du lịch trên toàn thế giới mới có được một địa điểm viếng thăm thuộc hàng xinh đẹp nhất.
Ngoài 20.000 cuốn sách các loại (trong đó phần lớn là sách khoa học, pháp lý), có rất nhiều không gian để các “con mọt sách” và những người mê kiến trúc tha hồ khám phá, nghiên cứu ... Rất đông người bước vào đây không phải để mua sách mà chủ đích là để ngắm nghía và chiêm ngưỡng công trình kiến trúc tuyệt đẹp.
Đây là một ví dụ tiêu biểu cho việc sử dụng những ngôi nhà cổ - không phá hủy, không bỏ hoang và đem lại hiệu ứng sử dụng đến không ngờ cho cộng đồng. Chắc chắn những hình ảnh về hiệu sách này sẽ khiến bạn mãn nhãn:








Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

VỊNH HẠ LONG

Nhìn từ trên xuống, Vịnh Hạ Long trông giống như một chiếc khăn tay màu xanh nhạt được đính những viên ngọc lục bảo, Vịnh chỉ có tổng diện tích là 1.553 km2 mà có tới 1.969 hòn đảo. Bàn tay nghệ thuật của tạo hóa đã tạo ra những hòn đảo giống hình người, các loài động vật và những đồ vật quen thuộc. Hòn Trống Mái giống một đôi gà bồng bềnh trên mặt nước, hòn Rùa trông giống một con rùa khổng lồ đôi mắt đang lim dim. Hòn Ông Sư trông giống như một vị sư già hướng mặt ra biển, chắp tay niệm Phật, và hòn Đỉnh Hương trông giống một cái lư hương khổng lồ được đặt trên bàn thớ là mặt biển bao la. Vịnh Hạ Long có một màu xanh thăm thẳm suốt bốn mùa. Vào mùa xuân, các hòn đảo như bồng bềnh thên mặt nước. Khi mùa hè đến mới vội cùng nhau choàng tỉnh giấc và vươn mình lên mặt nước xanh sâu thẳm. Những cây vả và những cây phong lan lách mình từ các khe đá nở rộ những bông hoa trắng như tuyết. Suốt quanh năm, những chiếc tàu chở khách qua những eo biển ngoằn nghoèo xuyên qua một rừng đảo. Có lúc tưởng chứng như núi đá chặn lại không còn lối đi. Tuy nhiên, đến gần thì dường như bức tường đá mở ra cho tàu đi qua. Hết cảnh này khuất lại đến một cảnh khác xuất hiện. Đường đi ngoằn nghoèo tưởng như dài vô tận
Hạ Long có nhiều hang độngphần lớn tập trung trong khu vực được UNESCO bảo vệ. Động Thiên Cung trông có vẻ hiện đại và được sửa sang nhiều trong khi động Đầu Gỗ rộng lớn và hùng vĩ, và động Sửng Sốt thì đầy vẻ kỳ bí. Các danh thắng khác như hồ Động Tiên, hang Trinh Nữ và hang Trống đều gắn liền với những truyền thuyết và truyện kể dân gian. Mỗi động là một tác phẩm kiến ytru1c hoành tráng nhưng rất tinh xảo của tạo hóa.
Vào lúc hoàng hôn, bóng núi trải dài ngang vịnh và nước biển chuyển sang màu xanh xám trước khi đột ngột chuyển thành màu đỏ sẫm bởi những tia nắng cuối cùng của mặt trời. Chỉ trong giây lát phong cảnh chuyển thành một màu và ánh sáng mặt trời biến mất. Sau lúc trăng lên, mặt biển như được tráng một lớp bạc cùng với ánh đèn lấp lánh của thành phố Hạ Long hắt lên từ mặt nước.

Hoàng hôn 

Trong sương sớm
Thạch nhũ trong các động
Bán hàng rong trong vịnh