Thứ Hai, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Hội Sợ Vợ


Tại hội trường của Hội Sợ Vợ kia, có một cuộc thảo luận tại sao chồng lại sợ vợ. Sau khi các hội viên nêu đủ thứ lý do, ông hội trưởng kết luận:
- Tóm lại, đàn ông sợ vợ là tại vợ hành, phổ biến nhất là hành hạ về tinh thần. Qua những phát biểu của anh em, tôi thấy phần lớn sự hành hạ về tinh thần này là những lời vợ ta đóng vào tai ta khiến ta chịu không nổi dẫn đến sợ hãi một cách vô thức. Những lời nạt nộ như búa bổ, những lời đay nghiến đau như thiến, những lời hăm he làm ta tè, những lời lải nhải làm ta hãi, những lời mè nheo làm ta teo, những lời nói mát làm ta nhát, những lời đốc thúc làm ta nhục, những lời khi dể làm ta phải nể, những lời kể lể làm ta quê xệ, và cả những lời nói đúng làm ta lúng túng. Kết luận, sợ vợ là hậu quả không tránh được của các ông chồng. Ai làm chồng cũng phải trải qua. Thấy được điều tất yếu đó sẽ khiến chúng ta bớt mặc cảm vì nhận ra rằng ai cũng như mình và mình cũng như ai. Nếu chúng ta thấy chúng ta là số đông thì chúng ta có chỗ dựa tinh thần và sẽ bớt sợ. Tôi không có ý nói là chúng ta bớt sợ vợ, nhưng là bớt sợ lẻ loi. Nào anh em, những ông chồng, ai sợ vợ vì bị vợ hành hạ tinh thần thì hãy đứng lên. 
Nghe lời hùng biện thao thao bất tuyệt của ông hội trưởng, tất cả các ông chồng đều nhất tề đứng dậy, chỉ trừ một người. Ông hội trưởng chỉ tay vào người đó, kinh ngạc la lên:
- A! Anh này hay thật! Anh là một nguời chồng phi thuờng trong hàng triệu nguời chồng... Thật đáng ngưỡng mộ!
- Ôi ... Không. Tôi không có ý như vậy. Tôi muốn đứng lên mà không được. Tôi bị bà xã đánh đến tê liệt mất rồi ạ ...


Thế giới không phẳng - “Siêu thị ngàn sao” và phép thử lòng trung thực

VÕ VĂN DŨNG (CHLB ĐỨC)
 
Một điểm bán bí bên vệ đường tại thành phố Passau (Đức). Vì không có bất cứ nhân viên bán hàng nào nên khách hàng tự chọn bí, tự tính tiền rồi cho đúng số tiền ấy vào hộp đựng tiền - Ảnh: Võ Văn Dũng
Ngày cuối tuần, người bạn ở ngoại ô thành phố Passau (phía đông nam nước Đức) rủ tôi đi mua bí đỏ ở “siêu thị ngàn sao”.
Tên gọi thế nào thì “siêu thị” thế ấy: bí chất thành nhiều đống ngay bên vệ đường, không hề được che chắn, một bên là cánh đồng cỏ xanh mướt, một bên là con đường nhựa vi vu xe cộ lại qua. “Nhân viên thu ngân” là hai hộp sắt có khe để cho tiền vào. Tuyệt nhiên không còn ai khác!
Giá bí tính theo trái, tùy loại và kích cỡ mà có giá từ 70 cent đến 5 euro (19.000-135.000 đồng/trái). Khách hàng chọn bí, tự cộng tiền rồi cho đúng số tiền đó vào khe của hộp sắt (hộp này không có chức năng thối tiền). 
Có lẽ nhiều bạn đọc đang có cùng câu hỏi: chủ nhân mớ bí đó không sợ bị khiêng mất cái hộp tiền hay bị chôm chỉa bí sao?
Thật ra ngay bên dưới hộp đựng tiền có dòng chữ cảnh báo: “Chú ý, có camera giám sát. Những hành vi trộm cắp sẽ bị phát hiện”. Song, có người vui tính đã cố ý đi tìm xung quanh xem camera đặt ở đâu giữa đồng cỏ mà tìm mãi chẳng ra. 
Kiểu bán hàng này còn được áp dụng cho cả hoa, chỉ khác đôi chút là hoa vẫn đang bén rễ trong lòng đất, người mua tự nhổ cả cành rồi tự tính, tự trả tiền. 
2. Khi mua hàng kiểu này, khách hàng không chỉ cảm thấy cực kỳ thoải mái mà còn ngầm hiểu rằng người bán hàng đang đặt niềm tin vào lòng trung thực của mỗi người. Tất nhiên, những rủi ro như khách hàng trả không đúng số tiền, hay thậm chí chẳng trả đồng nào là điều khó tránh khỏi triệt để.
Song, không vì số ít “xấu xí” mà những nông dân chăm chỉ lại “kết liễu” cách bán hàng độc đáo mang đậm dấu ấn ruộng đồng ấy. 
Về phần siêu thị, hầu hết siêu thị tại Đức không giữ túi xách của khách, cũng không có đội ngũ bảo vệ túc trực. Có những sản phẩm được bày ngay trước cửa - nơi tấp nập người qua lại. Sẽ thật hời hợt nếu chỉ nghĩ rằng làm như thế khác nào tạo điều kiện cho kẻ gian, mà quên màng đến ẩn ý của niềm tin vào đa số đàng hoàng. 
Cũng lại chuyện liên quan tính trung thực, tại Đức (và có lẽ cũng ở rất nhiều nơi khác) khi ai đó chẳng may va quẹt xe người khác mà không có chủ xe ở đó, họ sẽ tự động kẹp lên xe tấm danh thiếp hay mẩu giấy chứa thông tin liên lạc để thực hiện đền bù. 
3. Khi sống ở môi trường xã hội phải chứng kiến quá nhiều hành động không trung thực trong cuộc sống, rất có thể chúng ta trở nên lãnh cảm, hay tệ hơn là hòa vào dòng chảy ấy nếu “hệ miễn dịch” không đủ mạnh.
Nhiều người hoặc công khai hay lén lút tè bậy, đổ rác, hút thuốc nơi có bảng cấm; lăm le vượt đèn đỏ khi không thấy công an; hôi của người bị nạn; dùng khổ nhục kế lợi dụng lòng trắc ẩn; sở hữu bằng cấp giả - năng lực giả lại tha thiết chức vụ thật... 
Dường như chỉ số cảnh giác tỉ lệ nghịch với chỉ số bình an và niềm tin vào sự tử tế của con người. 
4. Khi một người thầy người Đức của tôi sắp có chuyến công tác đầu tiên ở TP.HCM, ông đã hỏi các sinh viên Việt Nam về những món ăn nên thưởng thức, những nơi nên đến trong dịp cuối tuần...
Sau khi tư vấn, các bạn trẻ Việt Nam không quên cung cấp một loạt bí quyết cảnh giác kẻ gian: đi trên đường nhớ đeo chéo túi xách, hạn chế nghe điện thoại di động - nếu có nghe thì nhớ không đứng sát vỉa hè, vừa nghe vừa quan sát xung quanh; đến nơi đông người coi chừng bị móc túi - rạch giỏ...
Thật đáng buồn. Điều đó có thể làm hạ nhiệt niềm mến thương với nơi ta đang sống, thất thoát niềm tin ở những điều tốt đẹp, trì hoãn ta nồng ấm với người dưng.
Cảnh giác với sự gian trá vốn dĩ là điều cần thiết. Song, sẽ thật đáng lo ngại khi cảnh giác lấn át cả niềm tin. Bên cạnh việc có những biện pháp giám sát, trừng phạt thích đáng những hành vi thiếu trung thực làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác, có lẽ cũng cần lắm sự mạnh dạn để tạo ra những phép thử lòng trung thực như “siêu thị ngàn sao” đã nhắc đến ở trên?
Cần thử để khẳng định ta vững lòng tin cái xấu là thiểu số, để tạo ra những trải nghiệm giao dịch thú vị và ấm áp, để lòng trung thực và cái tốt được thực hành thường xuyên bằng những việc giản dị.
Những thùng trà đá miễn phí bên vỉa hè, những bảng chỉ đường nguệch ngoạc viết tay ở một góc phố, những quán cơm 2.000 đồng... phải chăng là những đốm lửa xuất phát?

http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan

NGƯỜI ĐI ĐÂU?

Sư đệ gặp sư huynh trên đường, hỏi:
- Sư huynh đi đâu vậy?
Sư huynh đáp:
- Gió đi đâu, ta đi đó.
Sư đệ hết biết nói sao, trở về hỏi sư phụ. Sư phụ bảo:
- Lần sau con hỏi tiếp sư huynh, gió đi rồi thì sư huynh đi đâu.
Sư đệ nhớ lấy lời ấy. Ngày hôm sau, lại gặp sư huynh trên đường, hỏi:
Sư huynh đi đâu vậy?
Sư huynh đáp:
- Chân đi đâu thì ta đi đó.
Sư đệ lại chẳng biết nói thế nào. Trở về hõi sư phụ, sư phụ bảo:
- Lần sau con hỏi tiếp sư huynh, chân mỏi rồi thì sư huynh đi đâu.
Ngày thứ ba, sư đệ lại gặp sư huynh, hỏi:
- Sư huynh, sư huynh đi đâu vậy?
Sư huynh mỉm cười, giơ cái giỏ trong tay lên, đáp:
Ta đi mua rau!

...

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 10 năm 2014

MÀU ÁO CƯỚI


MÀU ÁO CƯỚI
Thím Hươu: Các cô dâu thường mặc áo cưới màu trắng. Đố biết tại sao?
Chú Nai: Ồ! Các bà muốn mặc màu gì thì mặc, ai mà cản cho nổi.
Thím Hươu: Đúng là lười biếng tìm hiểu phụ nữ. (nói say sưa) Cô dâu mặc áo trắng như là một biểu tượng cho hạnh phúc, vì đám cưới là ngày vui nhất trong đời cô dâu. Màu trắng của áo cô dâu nói lên hạnh phúc không hoen ố trong ngày cuới: màu trắng tinh tuyền, màu trắng thuần khiết, màu trắng ... 
Chú Nai: (ngắt lời) A! Bây giờ anh mới hiểu tại sao chú rể thường mặc màu đen...


KẾT HÔN VÀ TỰ TỬ
- Thống kê cho biết rằng kết hôn giảm thiểu được nhiều vụ tự tử.
- Phải rồi. Và thống kê cũng chứng minh rằng tự tử ngăn chặn được nhiều vụ kết hôn.

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2014

BA CÂU HỎI CỦA NHÀ VUA

Leo Tolstoy


Một hôm đức Vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi này thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là: 1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc? 2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng? 3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện? 
Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó. Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau. 
Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xẩy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết. Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Ðồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ. Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ. 
Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết. 
Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất. Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết. 
Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo sĩ tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là đã giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia. Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo. Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển. Nhà vua tới gần ông đạo và nói: “Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên?” Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói: “Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát”. Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho Vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lặp lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: “Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc”. Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo: “Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà”. Ông đạo chợt nghe tiếng chân người chạy đâu đó bèn nói với nhà vua: “Bác thử xem có ai chạy lên kìa”. Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên rỉ. Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. 
Vua ngủ ngon đến nỗi khi Vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau Vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt: “Xin bệ hạ tha tội cho thần”. “Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha ?” “Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người có mối thâm thù với bệ hạ, hạ thần đã thề sẽ giết chết bệ hạ cho bằng được, bởi vì khi xưa, trong chinh chiến, bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa”. “Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ, nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần”. Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh. Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. 
Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: “Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà”. Vua hỏi: “Trả lời bao giờ đâu nào?”. Đạo sĩ giải thích: “Hôm qua nếu Vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà Vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian Vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho thì ông ta sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: “Chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể hiện hữu với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc gì với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc ta làm cho người đang hiện hữu sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó chính là ý nghĩa của cuộc sống” 

Cuộc sống thật là hạnh phúc


BB: Chị và anh CB cưới nhau đã mấy năm. Cuộc sống thật là hạnh phúc.
BG: Em cũng muốn học hỏi nơi anh chị, nhưng anh chị không cãi nhau sao?
BB: Chưa bao giờ xảy ra như vậy. Nếu có những ý khiến khác biệt nảy sinh, và chị đúng thì CB luôn nghe theo chị.
BG: Vậy nếu anh CB đúng thì sao?
BB: Ồ ... Chưa bao giờ xảy ra như vậy, em ạ.

CHÚ TIỂU ĐI MUA DẦU

Một chú tiểu được sai đi mua dầu ăn, người đầu bếp trong chùa dặn:
-Con phải cẩn thận, trong chùa chúng ta lúc này tiền bạc thiếu hụt, tuyệt đối không được làm đổ dầu.
Chú tiểu trên đường lên núi trở về chùa, cứ nghĩ đến lời dặn nghiêm khắc của người đầu bếp. Càng nghĩ, càng căng thẳng, chú thận trọng bưng bát dầu đầy bước từng bước một lên núi, chẳng dám ngước mắt nhìn chung quanh.
Nhưng khi đến gần cửa chùa, do không nhìn đường ở phía trước, chú bị sụp chân xuống lỗ trũng, tuy chưa té nhưng lại làm đổ mất một phần ba lượng dầu trong bát. Chú tiểu sợ quá, hai tay phát run, không thể nắm vững bát dầu nữa, khi vào chùa thì bát dầu chỉ còn một nửa.
Người đầu bếp quát mắng chú tiểu một trận, chú khóc sướt mướt.
Lão hòa thượng đi đến khuyên người đầu bếp rồi bảo riêng chú tiểu:
- Ta nhờ con đi mua dầu một lần nữa, lần này, ta muốn con khi trên đường về cứ thỏa sức ngắm nhìn cảnh vật chung quanh, rồi về kể lại cho ta nghe.
Chú tiểu muốn từ chối nhưng trước sự kiên trì của lão hòa thượng, chú đành miễn cưỡng bưng bát đi mua dầu.

Trên đường về, chú tiểu nghe lời lão hòa thượng phát hiện phong cảnh hai bên đường rất đẹp, chú vừa đi vừa ngắm nhìn về đến chùa lúc nào không hay. Dầu trong bát lại không bị đổ lấy một giọt.

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

VỊ THIỀN SƯ VÀ BA ĐỆ TỬ

Có một thiền sư muốn thử tài thông minh của ba đệ tử đã dùng cách như sau: trao cho ba đệ tử mỗi người một trăm đồng, bảo họ dùng một trăm đồng ấy đi mua bất cứ thứ gì mà họ muốn, rồi đem thứ đó đựng sao cho đầy một nhà kho lớn.
Đệ tử thứ nhất suy nghĩ rất lâu, sau đó quyết định dùng một trăm đồng ấy mua rơm rạ, cho là rẻ nhất, nhưng rơm rạ đem về vẫn không chứa đầy một nửa của nhà kho.
Đệ tử thứ hai có vẻ thông minh hơn một tí, dùng một trăm đồng ấy mua giấy vệ sinh, rồi đem giấy vệ sinh mở tung ra hy vọng có thể đựng đầy nhà kho. Nhưng dù cố gắng đến mấy, cũng chỉ đựng không đến hai phần ba nhà kho.

Người đệ tử thứ ba đợi hai người kia làm xong, bèn mời thiền sư cùng vào trong nhà kho, đóng cửa lại. Trong nhà kho tối om. Lúc này, anh ta mới lấy từ trong túi áo ra một hộp diêm mua không quá một đồng, thắp vào một ngọn nến nhỏ cũng không quá một đồng. Lập tức, ánh nến tỏa khắp nhà kho. Ánh nến tuy yếu ớt nhưng lại ấm áp, chan hòa ...