Chủ Nhật, ngày 21 tháng 9 năm 2014

Hôn


Hôn
Chàng mới quen nàng, rủ nàng đi ăn tối, rồi chở nàng về nhà. Đột nhiên chàng hỏi:
- Có bao giờ em cho một anh nào đó hôn em khi đi chung xe chưa?
- Chưa bao giờ. Vì nếu anh ta đang lái xe thì sẽ không thể hôn say đắm như nó phải như vậy.

Hỏi
Một đoàn khách du lịch được hướng dẫn đi thăm sở thú. Trong đoàn, có một bà phì nộn luôn hỏi ông hướng dẫn đủ thứ chuyện tào lao. Đến trước một chuồng nuôi con hà mã to béo, sau khi hỏi những câu ngớ ngẩn, cuối cùng bà ta thắc mắc:
- Đây là con đực hay con cái?
Câu hỏi này quá sức chịu đựng của ông hướng dẫn; ông ta đáp lại:
- Thưa bà, nó là đực hay cái đâu có khác gì nhau, trừ khi bà cũng là một con hà mã.



Những Hạt Giống Tâm Hồn

THY ANH

Chiều thứ bảy, dạo qua nhà sách FAHASA Nguyễn Huệ, lúc đặt sách lên quầy tính tiền, cô thu ngân chưa kịp lấy, chị nọ - đến sau mình và một ông Tây - nhào lên trước, đưa sách tận tay thu ngân, chẳng nói một lời. Chị khoảng hơn 40, đi với cậu con trai 14 -15 tuổi. Ông Tây lắc đầu ngao ngán, mình thì quen rồi, chỉ thử nhìn xem chị mua sách gì, thấy 4 - 5 cuốn loại Hạt Giống Tâm Hồn. Cũng ngộ, sao chị tìm mua sách Học Làm Người mà lại không biết lịch sự xếp hàng chờ tới lượt mình? Chắc không phải do vội, vì sau đó thấy chị lại lững thững xem thêm sách trên kệ. Bực mình … nhưng không quá 30 giây. Suy đi nghĩ lại, với độ tuổi 40, có lẽ tuổi thơ của chị lớn lên ngay sau 1975, sách dạy "Học Làm Người" thời đó khác, chỉ dạy những chuyện "đại sự" đâu dạy ba cái lặt vặt như: xếp hàng, chào hỏi hay cảm ơn... 
Chắc chị mua sách cho cậu con, hy vọng cháu sẽ được gieo những Hạt Giống Tâm Hồn khác hơn của chị .

Nước Mắt

Ann Nguyen
San Jose September 20, 2014.


Nước mắt, dưới cái nhìn cơ thể học, là một lớp nước mỏng bao phủ bề mặt nhãn cầu có vai trò bảo vệ mắt. Sự khóc cũng được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau. Khóc là một biểu hiện tâm sinh lý. Phụ nữ sau 40 tuổi ít khóc hơn nam giới vì giảm lượng prolactin. Những nhà tâm lý thì bảo nước mắt có thể làm giảm sự hung hăng của người khác.

Thế khi nào thì con người khóc? Người ta có thể chảy nước mắt mà không phải khóc. Ừ nhỉ, nước mắt và khóc cũng thật không đơn giản huống chi khóc vì lý do gì. Khi mới chào đời em bé sơ sinh cất tiếng khóc trong trẻo đầu tiên đánh dấu một sự sống bắt đầu. Bé có khóc thì buồng phổi mới nở và sự tuần hoàn bắt đầu sau chín tháng phải liên kết vào cơ thể mẹ. Trong giây phút thiêng liêng này, thường thì người mẹ chảy nước mắt- bà khóc vì vui mừng hay cơ thể bà thay đổi và kích thích tuyến nước mắt, và cũng có khi là những cơn đau... Nói chung là cả mẹ và con cùng chảy nước mắt. Nước mắt của hạnh phúc. 

Con bước chân vào đời cười khóc theo tuổi thơ. Khóc vì bị cha mẹ trách mắng, khóc vì bị thầy cô phạt, khóc vì bị điểm nhỏ, và khóc vì ai đó làm tổn hại tình thương yêu của mình. Cô thiếu nữ đôi mươi đêm về lén mẹ khóc rấm rức vì sự hờ hững của một anh chàng thư sinh nào đó. Con gái khóc vì cha bảo không nên kết hôn với anh chàng con đang say mê vì đời con rồi sẽ khổ. Một chàng trai thất tình, tim đau biến thành thơ nhạc, anh nhỏ lệ cho những bài tình ca bất hủ. Thua thiệt, bé nhỏ, hay duyên tình lận đận: khóc! 

Ngày tạm biệt thời con gái, nàng cất bước theo chồng về nhà mới hay sống một cuộc sống mới nàng cũng khóc. Những giọt nước mắt của hạnh phúc pha lẫn lo toan. Mẹ đưa con về nhà chồng tối về giọt ngắn giọt dài vì những lo lắng cho con đêm đầu tiên ngủ ở nhà người. Nước mắt của hai mẹ con không cùng chung tiếng nói nhưng có sợi dây liên kết vô hình. Và, trong mỗi chặng đường đời từ giây phút này hai giọt nước mắt luôn tìm về nhau khi chúng có thể. Tình mẫu tử thiêng liêng. 

Đường đời dài và nhiều lối đi. Một phút nào đó vấp ngã, do ngẫu nhiên hay do ai đó sắp đặt, nước mắt lại tuôn rơi. Khóc cho sự đau đớn, khóc cho sự té ngã, khóc cho số phận không gặp điều may mắn. Người thì gạt nước mắt tìm lối đi mới, kẻ cất giọt nước mắt vào tim dùng năm tháng xoá mờ vết thương lòng. Tuy nhiên, cũng trên những nẻo đường của kiếp người, ai đó lại khóc vì hạnh phúc, khóc cho một giây phút thăng hoa của những gì mình cố sức vun đắp, ước mơ. Cũng có người khóc cho sự vinh quang của bạn đời, sự thành đạt của con cái, hay sự thoát nguy của cha mẹ. Vui buồn lẫn lộn trong nước mắt con người.

Hơn nửa đoạn đường của kiếp nhân sinh, hai con người hai mái đầu chung một mái nhà, người ta gọi là bạn đời hay chồng vợ luôn có nhau. Có nhau trong thực thể hay có nhau trong tâm tưởng thì họ cũng là hai người đã từng chia ngọt sẻ bùi với ít nhất một lần khóc với nhau, khóc vì nhau, hay khóc cho nhau. Thế rồi, có lúc một trong hai phải chia tay cõi đời: chết. Cái chết của một người là nhân tố sâu xa cho những giọt nước mắt. Khóc vì những kỉ niệm đẹp từng có bên nhau, khóc vì những điều đã hết lòng cho nhau, và khóc cho cả những gì chưa làm được cho nhau. Và, ta khóc cho cả bản thân mình, vì bắt đầu từ giờ phút người bạn đời chết đi ta sẽ đơn lẻ biết dường nào. Những giọt nước mắt cho sự tử biệt mới nao lòng làm sao bởi lẽ vĩnh viễn ta không còn thấy nhau, bên nhau, hay nói với nhau. 

Hạnh phúc hay đau khổ, sinh ly hay tử biệt nước mắt đều có mặt trong cái phản ứng tâm sinh lý bình thường của một con người. Thế mới thấy nước mắt là cái không thể thiếu và không thể bỏ qua nhưng không ai lại muốn nó hiện hữu thường xuyên trong đời sống của mình. 

Bạn thân mến, 
Chúc mỗi chúng ta có một ngày bình an và hạnh phúc dù có phải rơi nước mắt vì một lý do gì- hãy nhớ ta vẫn còn hình hài và một đời sống mà ta đang hiện hữu. Mong mỗi chúng mình mang lại cho người xung quanh ít nhất một niềm vui trong ngày. Và này, đừng quên yêu bản thân mình bạn nhé. "Nước mắt" cho một cuối tuần buồn vui của kẻ xa người gần. 


San Jose September 20, 2014.

Có ai ở đời mãi đâu mà giận với hờn


Hỷ xả là cái đức rất cần thiết và quý báu cho cuộc sống hiện tại của chúng ta. Muốn được vui, muốn được tươi đẹp, sống lâu thì chúng ta phải tu hạnh hỷ xả.
Người nào ôm lòng phiền hận thì đau khổ
Nếu chúng ta có tài vật dư dả nên vui vẻ xả, giúp cho những người bần cùng đói rách. Của cải do mồ hôi nước mắt mình tạo, mình cảm thấy đủ hay dư thì vui xả cho những người nghèo thiếu hay những người ít ỏi hơn. Đó là hỷ xả tài vật bên ngoài.
Tuy vậy cũng hơi khó làm, vì có nhiều người, kẻ khác thấy họ dư mà bản thân họ lại thấy thiếu. Có một đồng muốn hai đồng, có hai đồng muốn mười đồng, có mười đồng muốn ba mươi đồng, muốn cho đến ngày tắt thở mà vẫn thấy chưa đủ. Như vậy làm sao xả được? Cho nên muốn hỷ xả chúng ta phải học Phật.
Phật dạy ít muốn, biết đủ. Chúng ta biết đủ thì mới xả được, không biết đủ thì không thể nào xả được. Người không biết đủ giống như cái túi không đáy, bỏ vào bao nhiêu tuột hết bấy nhiêu, bỏ bao nhiêu cũng không đầy, do cái bệnh không biết đủ, như vậy làm sao mà xả ?
Ví dụ mỗi ngày buổi trưa chúng ta ăn ba chén cơm là đủ no, dù có đồ ăn ngon, chúng ta cũng ăn ba chén, phần dư thì giúp cho người, hoặc cho vật. Dù đấy là phần dư của mình, nhưng cũng là một lối xả. Chớ nên ăn ba chén vừa no, thấy đồ ăn ngon, ăn thêm nữa, như vậy là phí phạm, vì lượng thức ăn chừng đó là đủ, ăn thêm là dư.
Đó là nói về cái ăn, còn bao nhiêu cái khác. Chẳng hạn như cái mặc, chúng ta có ba bộ đồ đủ để mặc, thêm bộ thứ tư là dư rồi nhưng có bộ thứ tư thấy chưa đủ, mua thêm bộ thứ năm cũng thấy chưa đủ nữa.
Như vậy chừng nào mới đủ để xả? Không biết đủ thì không bao giờ xả được. Muốn xả phải biết đủ, biết đủ mới xả được, của dư đem giúp người không một chút luyến tiếc. Đó là tâm hỷ xả, vui vẻ giúp người chớ không bị bắt buộc.
Hỷ xả tài vật tuy khó nhưng dễ hơn hỷ xả cố chấp phiền muộn ở tâm. Khi có người làm phiền mình thì gương mặt buồn hoặc nhăn nhó. Muốn hết phiền phải tập xả; xả này là tha thứ, là bỏ qua.
Phiền ở đây là phiền não và sân hận, hai thứ đó chất chứa trong lòng, mình phải buông xả nó đi. Người nào ôm lòng phiền hận thì đau khổ, đau khổ từ hiện tại cho đến mai kia, chớ không phải đau khổ trong hiện tại thôi.
Vì vậy, khi biết mình đang ôm lòng phiền hận người này kẻ khác thì phải vui vẻ bỏ, nghĩa là bao nhiêu cái phiền muộn đang chứa chấp trong lòng phải hỷ xả hết. Muốn xả của cải chúng ta phải biết đủ.
Muốn bỏ phiền hận phải làm sao?
Muốn bỏ phiền hận trong lòng, chúng ta phải thấy cuộc đời là vô thường, cái chết đang kề cận, ôm phiền hận làm gì.
Do nghĩ cái chết sắp đến nên chúng ta buông xả được phiền hận. Phiền hận chỉ làm khổ mình, khổ người, không lợi cho ai cả. Quán xét như vậy chúng ta buông hết, không buồn giận ai, lo tu cho tâm an ổn.
Chúng ta thấy cuộc đời như ảo mộng, ngày nay có mặt đây, ngày mai đã mất rồi. Sống trong tạm bợ mong manh, mình tạm bợ, người tạm bợ… Vậy tại sao không thương nhau, nâng đỡ nhau?
Muốn được vui, tươi đẹp thì phải hỷ xả
Nếu chúng ta biết mình là người bị kêu án tử hình và những người xung quanh cũng bị kêu án tử hình thì đâu có buồn giận nhau. Trong cuộc sống hằng ngày khi lẫn lộn chung chạ nhau, có dẫm lên nhau hay có làm phiền toái nhau cũng bỏ qua.
Phải nghĩ đến cái chết, chớ để tâm buồn giận. Nghĩ đến cái chết, chúng ta mới thấy cuộc đời là tạm bợ, sống không có cái gì bảo đảm. Vậy buồn giận nhau để làm gì? Hãy buông xả hết những gì chứa chấp trong lòng. Có ai ở đời mãi đâu mà giận với hờn.
Chúng ta đã học Phật, vậy có tập được hạnh buông xả chưa? Đi chùa cúng Phật có còn giận hờn bạn bè anh em không? Nếu ai còn phiền giận thì ngay bây giờ hãy nguyện đức Phật chứng minh xả hết, cho lòng trống rỗng không còn vướng bận việc gì.
Dù có buồn giận ai từ mười năm hay hai ba mươi năm, ngày nay dứt khoát phải xả. Phiền hận là rắn độc, dại gì chúng ta chứa rắn độc trong nhà. Nếu chứa rắn độc trong nhà thì sớm muộn gì cũng bị nó cắn.
Thế nên khi biết phiền não là rắn độc thì phải xả ngay, đuổi ra khỏi nhà, không dung chứa nó. Biết như vậy là tu đó. Phiền hận thì không vui, hết phiền hận, tâm hồn rỗng rang trống trải thì rất vui vẻ.
Muốn được vui vẻ, chúng ta phải tập hỷ xả những vật bên ngoài, hỷ xả những phiền hận trong lòng. Trong ngoài đều hỷ xả hết mới có cái vui chân thật. Sở dĩ đức Phật Di Lặc cười hoài là vì Ngài hỷ xả, còn chúng ta buồn hoài là vì chúng ta cố chấp phiền hận.
Cố chấp phiền hận là nguyên nhân của đau khổ, của bệnh tật, rất xấu xa đê hèn, dứt khoát phải xả bỏ. Mọi người ai cũng muốn mình là người vui tươi, ai cũng muốn mình là người sung sướng, nhưng tại sao lại chứa cái nhân đau khổ?
Có phải tự mình mâu thuẫn với mình không? Khi nào giận ai, buồn ai là biết mình đang hại mình, làm cho mình xấu xa, làm cho mình đau khổ, làm cho mình bệnh hoạn.

Bùi Hiền (lược ghi)

Thứ Sáu, ngày 19 tháng 9 năm 2014

Phật ở quán café

Phúc Quỳnh


Tựa bài viết này không là một ý thơ kiểu cọ thời đại, hay một tư tưởng lạ của mấy triết gia, mà chỉ là một sự thật tôi từng được biết nhân đọc báo mấy năm trước. Trong bài viết tuần qua, nhân nói về một cô gái Việt sống ở Unalaska, tiểu bang Alaska, tôi có hứa kể bạn nghe chuyện một pho tượng Phật trắng toát đã phiêu lưu từ miền Trung Việt Nam đến tận thành phố Anchorage ở miền băng giá Alaska. Tượng Phật này được an vị bất đắc dĩ trong một quán cà phê của người Mỹ, và trở thành một biểu tượng cho sự bình an đối với bất cứ ai từng ghé quán Side Street Espresso nằm trên đường G Street.

Tượng Phật ngồi bằng đá cẩm thạch này nặng gần 700 pounds, tức là hơn 310 kí-lô, cao chừng một mét. Sau khi tượng đến quán được một thời gian khá lâu, mùa hè năm 2011, nữ ký giả Julia O'Malley đã viết bài đăng trên báo Anchorage Daily News về pho tượng và người đã mang tượng đến Alaska.

Bà Julia kể rằng vài năm trước đó, ông Suel Jones, một thợ máy về hưu từng làm việc cho hãng dầu BP, đã có cảm tình với một pho tượng Phật được đẽo gọt bởi một nghệ nhân ở bên lề đường trên Núi Ngũ Hành Sơn (người Tây Phương gọi là Núi Đá Cẩm Thạch). Ngày ấy ông Suel đã du lịch đến vùng ngoại ô Đà Nẵng.

“Tôi chỉ nhìn pho tượng và biết rằng mình muốn nó hơn những tượng khác nằm quanh đấy,” ông nói với bà Julia. “Tôi không thể giải thích tại sao tôi thích tượng Phật ấy, có lẽ vì nét mặt, có lẽ vì chất liệu, tôi không thật sự hiểu.”

Thế rồi ông nói thêm rằng tượng gợi nhớ một thời quá khứ bất ổn khi ông là một người lính Thủy Quân Lục Chiến trẻ tuổi mới đến Việt Nam. Ông nhớ rõ một ngày nọ khoảng 40 năm trước, khi ông và các đồng đội tiến vào một ngôi làng gọi là Cam Lộ.

“Có một ngôi chùa bị bắn nổ tan tành,” ông kể.

Trong ngôi chùa tan hoang ấy, ông thấy một pho tượng Phật ngồi vững vàng, thanh tịnh giữa những đổ nát của chiến tranh. Điều đó khiến ông nghĩ đến những gì đang xảy ra cho đất nước Việt Nam, cho con người và cho truyền thống từ ngàn xưa của họ.

Tượng Phật cẩm thạch trông quen thuộc với ông vì lẽ ấy. Có lẽ vì nụ cười của Phật, như là vị Phật mà ông từng thấy lần đầu 40 năm trước nay bỗng trở về với ông. Cựu quân nhân này cảm thấy trong lòng một sự biết ơn mà ông không hề nghĩ mình có trước đây, về sự có mặt của Phật trong đời ông.

Thế là ông Suel đồng ý mua tượng Phật với giá $500. Ông tốn thêm gấp đôi số tiền để cho người ta chuyên chở tượng đến Alaska. Khi mua tượng thì ông không thật sự biết mình sẽ làm gì với nó. Chắc đặt ở ngoài vườn tại căn cabin của ông ở Glacier View, ông nghĩ vậy. Căn cabin và cũng là nhà của ông nằm cách xa Anchorage khoảng 100 dặm nằm trên bang lộ Glenn Highway. Khi tượng Phật đến Alaska, ông Suel đã lái một chiếc pickup và chở tượng ở đằng sau trong suốt mấy ngày. Lái xe đến đâu ông cũng gây chú ý. Ai ai cũng tò mò nhìn pho tượng Phật trắng ngần nằm trên xe của ông Suel. Ở các ngã tư đèn đỏ và ở trạm xăng, người lạ bước đến gần và hỏi ông về pho tượng ấy. Ai cũng thắc mắc, không biết tại sao ông Suel này lại mang Phật đến Alaska.

“Họ không ngần ngại khi bước đến và sờ tượng Phật ở đằng sau xe của tôi,” ông kể.

Ông đã chở Phật xuống phố đến quán cà phê Side Street Espresso, nơi mà ông là một khách hàng quen mặt trong hơn 20 năm. Ông muốn hai chủ nhân George Gee và Deb Seaton được thấy tượng. Bà Deb cho rằng tượng này nên đặt trong bảo tàng viện.

“Tôi đã xúc động đến muốn khóc,” bà Deb kể với ký giả Julia. “Tượng Phật sao mà đẹp quá.”

Thế rồi ông Suel xét lại, nghĩ rằng tượng Phật này không thể đặt ở một khu vườn hẻo lánh. Trong thời gian gần đây, ông sống nửa năm tại Glacier View và nửa năm còn lại ở Việt Nam, nơi ông làm việc với các hội cứu chiến binh của người Mỹ. Ông đã lập ra một hội chuyên trợ giúp các cựu chiến binh ở Alaska, bất kể họ trở về từ cuộc chiến nào trên thế giới. Tại Việt Nam thì ông phụ giúp trong công tác tháo gỡ mìn, xây nhà chơi cho trẻ em.

Ban đầu ông nghĩ đến việc bán tượng Phật để gây quỹ cho hội, và dùng tiền để làm thêm việc thiện ở Việt Nam. Cặp chủ nhân George và Deb đề nghị ông để Phật ở trong quán cà phê trong lúc chờ người mua.

Xe cần cẩu từng được dùng để đưa tượng Phật lên xe của ông. Giờ đây ông và hai người bạn không có xe cần cẩu để mang tượng xuống. Họ vận động thêm vài người bạn đến giúp một tay. Thế nhưng pho tượng nặng 700 cân chỉ có thể được mang từ trên xe xuống mặt đất, không thể nào khiêng vào bên trong quán cà phê. Mọi người nặn óc, đưa ra những sáng kiến. Thế nhưng đề nghị nào cũng thất bại. Tượng quá nặng so với sức của họ.

Thế rồi đúng lúc mọi người đành bó tay, chưa biết phải di chuyển Phật như thế nào, thì bỗng nhiên có hai ông lái xe mô-tô phóng qua. Ông nào cũng có đôi tay vạm vỡ đầy bắp thịt rắn chắc như cầu thủ chơi football. Hai ông mặc áo da đi xe mô-tô này đã phóng xe qua và rồi vòng xe lại vì muốn quan sát một bức tượng mà họ thấy xuất hiện kỳ lạ ở nơi đây. Khi biết nhóm ông Suel cần khiêng tượng vào trong tiệm, hai ông lái xe mô-tô liền ra tay giúp.

“Hai người này gần như tự họ khiêng Phật vào bên trong, không cần ai giúp,” ông Suel nhớ lại.

Thế là Phật được an vị trong quán cà phê Side Street như vậy. Họ đặt tượng giữa một tủ lạnh và một chiếc bàn với khăn ca-rô phủ bên trên. Hai năm trôi qua.

“Chúng tôi không may mắn trong việc bán tượng,” ông Suel kể. “Giống như là tượng đã quyết định ở lại đây, không muốn đi đâu hết.”

Quán Side Street có rất đông khách lui tới thường xuyên, và hầu như ai cũng cảm thấy thân quen với tượng. Họ thường ve vuốt những nếp y trên tượng. Đôi vai của Phật không còn bóng loáng vì có quá nhiều dấu tay sờ bên trên. Thế rồi họ dần dần đặt thêm đèn cầy ở cạnh tượng, choàng thêm vòng hoa trên Phật và biến góc nhỏ này thành nơi thờ phượng.

Khi được hỏi ý ông nghĩ sao về việc bức tượng thu hút người ta đến như vậy, ông Suel trả lời, “Có lẽ nước Mỹ chúng ta đang trải qua quá nhiều vấn đề rối rắm.” Ông nhắc đến nền kinh tế lúc ấy không được khá, chính trị bị chia rẽ, và có rất nhiều cựu quân nhân trở về từ hai cuộc chiến mới nhất. Ai cũng tìm cách thấu hiểu những gì đang xảy ra ở chung quanh họ.

“Họ cần bất cứ cái gì có thể cho họ một cảm tưởng bình yên, tĩnh lặng,” ông nhận xét.

Ông chủ George Gee dậy sớm mỗi ngày để vẽ chân dung và viết thực đơn cho món đặc biệt trong ngày trên một tấm bảng nhỏ. Là một họa sĩ, ông thường vẽ khuôn mặt của những nhân vật thời sự trong ngày kèm thêm lời châm biếm hài hước để mua vui thực khách. Chẳng hạn như mới đây ông George vẽ mặt anh chàng Edward Snowden để quảng cáo cho một món nước uống có pha thêm hương vị dừa “coconut,” để ám chỉ hành động dại khờ của anh khi tiết lộ hàng ngàn tài liệu mật của chính phủ Mỹ, để rồi phải trốn chạy qua Hồng Kông và nay bị mắc kẹt ở Nga.

George nói rằng tượng Phật đã trở nên quá thân thuộc với ông trong những lúc ông cần suy nghĩ nhất trong ngày. Ông nói quán cà phê luôn có một nguồn năng lực riêng của nó, và tượng Phật đã thật phù hợp trong không gian này.

“Tượng hình như đã có sẵn một năng lực huyền bí từ lâu,” ông nói. Lực đó đã khiến những tay anh hùng lái xe mô-tô phải rời xe của họ, và cũng có thể đã khiến một người quyết định đưa pho tượng nặng 700 cân đi nửa vòng trái đất đến đây, ông George nghĩ vậy.

Vào khoảng tháng Sáu năm 2011, những thân chủ của tiệm đã mau chóng truyền tin với nhau rằng có người đã trả giá mua tượng Phật và sắp mang tượng rời quán cà phê. Họ cảm thấy luyến tiếc khi nghĩ đến việc một ngày kia Phật không còn ngồi ở chỗ quen thuộc trong quán. Thế rồi khoảng hai tuần sau đó, một thân chủ đến uống cà phê như mọi lần. Khi mở bóp lấy tiền trả nước uống, ông cầm ra $3,000. Ông muốn mua tượng Phật với một điều kiện, ông George kể. Điều kiện duy nhất ấy là Phật phải ở trong tiệm này, không đi đâu hết.

Ông Suel đồng ý. Số tiền bán tượng ấy đã được ông Suel mang đến miền Trung Việt Nam để tiếp tục công tác từ thiện của hội Cựu Chiến Binh Cho Hòa Bình (Veterans for Peace).

“Tôi rất ngạc nhiên, bạn biết chăng,” ông Suel kể. “Nhưng rồi tôi cũng hiểu, tôi thấy rằng ông ấy cũng muốn chia sẻ tượng với mọi người.”

Thế nên giờ đây Phật vẫn còn an vị trong một quán cà phê nằm trên đường G Street ở Anchorage, Alaska, không ngồi trong một ngôi đền hoặc một ngôi chùa nào xa thế gian. Phật ngồi đó, tiếp tục thiền định với ánh mắt từ bi hướng về những người đang thảnh thơi thưởng thức một tách cà phê ấm hoặc bận chăm chú xem màn ảnh của điện thoại, với nét mặt đẹp sáng ngời, và với một nụ cười thân thuộc luôn mang đến sự bình yên. (pq)


VienDongDaily.Com 
17/06/2014

THỞ PHÀO TRONG NẮNG

Síu Phạm

Khác với những lần xa lạ, ngượng ngùng, không hiểu sao lần trở về này, Sài Gòn bỗng dưng sừng sững quen thuộc, như thể chưa bao giờ lìa xa.
Như người đi nhặt những mảnh gương, Sài Gòn đâm thủng da thịt tôi bằng những tia nắng vỡ, nhọn, long lanh thủy tinh trên từng cường điệu của nhịp đời.
Sức sống quấn quyện trên hè phố, người người, nhà nhà, tiếp nối, ngợp ngợp.
Từ hàng hiên nhà cậu em tôi, sau nhà thờ Fatima, trên bờ sông Sài Gòn, tôi nhìn bâng quơ theo những cọng rong rêu xanh rì, lều bều trôi trên dòng nước đục. Hai bờ sông, cành cọ dừa lao xao khi tôi gọi xe ôm lên quán Highland Metropole. Bẩy cây số nắng, mắt mũi tôi choáng ngợp, ánh sáng và âm thanh cuồn cuộn.
Sức cọ xát hòa với hơi người nồng nồng kề cận, chiết Honda ôm lao vào trong nắng. Tôi như một cái bát sành, bị ném vỡ trên đường phố. Nứt rạn rồi bể tan tành.
Sài Gòn mang tôi về, tách tôi xa rời Genève, nơi tôi đang sống.
Thụy Sĩ lạnh sang trọng, Thụy Sĩ lịch sự xa cách. Sài Gòn tự nhiên không màu mè, dễ dàng than thở, thân thiện, kể lể từng tâm tình với người chị đi xa, đôi khi chưa hề bao giờ gặp. Tôi cũng lắm mồm, hân hoan thủ thỉ, vì tôi lúc nào cũng thích nghe chuyện và tán chuyện.
Như hai người quen thân đã quá lâu ngày không gặp nhau, Sài Gòn và tôi tự đặt nhiều câu hỏi chập choạng, rụt rè và kín đáo. Không biết bạn ta có nhận ra ta? Không biết ta có nhận ra bạn ta, không biết ta có nhận ra chính ta trên hè đường khi nhìn thấy bóng mình đổ xuôi theo chiều nắng?
Rồi tôi bước vào, rồi cánh cửa Sài Gòn mở rộng. Cái thế giới của sắc màu, nửa phần quen thuộc, nửa phần bí ẩn tưởng chừng đã mất, bỗng sừng sững trước măt ào ạt vẫy gọi.
Từ hai cầu Bình Triệu mới, hai chiều xe chạy ngược xuôi, thông suốt không còn ngờ vực, tôi hòa vào dòng sông thênh thang qua đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, ngã tư Hàng Xanh, đường Điện Biên Phủ, tới đường Lê Duẩn trước nhà thờ Đức Bà, tôi nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm của Sài Gòn.
Buổi gặp lại giữa Sài Gòn và tôi đơn giản, rõ ràng, không lo âu. Tất cả tiếng chuông báo động đều đã tắt ngúm.
Tới High Land, tôi nghe anh bạn nói"Chỗ ngồi của High Land ở đây là tuyệt vời nhất Sài Gòn", tôi lại nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm của lề đường Đồng Khởi.
Bỏ cái mũ mượn của cô em dâu cuống bàn, tôi gọi "Em ơi, cho chị một ly cà phê sữa đá!" tôi nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm của chính tôi.
Tôi nói "Hình như xe cộ Sài Gòn dạo này ít đi, anh nhỉ"
"Không, nhiều hơn chứ", anh bạn tôi phản đối "Có lẽ bởi ít kẹt xe đấy thôi!"
Rời High Land với cái hẹn, "Bạn muốn tìm tôi cứ ra đây uống cà phê kể từ 8g30 sáng, bất cứ ngày nào ..." Cầm cái mũ trong tay, bước ba bước xuống hè đường, đi thêm một quãng, nắng đổ lên đầu một cái ào, tôi bỗng nhớ là mình quên chưa đội mũ. Cái mũ như kiểu mũ của cô đào Jane March trong phim L'amant của Annaud, chỉ tiếc là cái nơ bị rách. Loay hoay chỉnh được cái nơ, tôi đã đi tới hiệu sách Xuân Thu, hiệu sách Khai Trí cũ, cái lạnh của máy điều hòa đã tràn xuống lề đường. Tôi dừng lại ở xế cửa hiệu.
"Cô chở em về liền, em đi lấy tờ Liberation ngày hôm qua cho cô!"
Tôi ngồi xuống góc đường trên chiếc ghế nhựa đỏ, bé xíu, cạnh những quyển sách bằng bản sao, gói plastic kỹ lưỡng.
Một bà khách du lịch đi qua, dừng lại, cầm quyển guide du lịch "Southeast Asia", lật lật vài tờ, rồi đọc chăm chú.
Nắng vẫn đổ lên lề đường ào ạt, bà khách nước ngoài hỏi tôi bằng tiếng Anh: "Bao nhiêu?" Tôi cười cười lắc đầu như không biết tiếng.
Từ đằng xa, cô bé bán báo chạy lại đưa cho tôi tờLibe, rồi quay sang bà khách nói giá tiền quyển sách. Bà ấy nhìn tôi cười, hiểu ra câu chuyện.
Tôi nói:"Lần sau tôi sẽ hỏi giá tất cả các quyển sách để có thể trả lời, lần này tôi chỉ thích ngồi lại đây, giữa vùng trời nắng to và tiếng động xôn xao".
"Tôi cũng thích được như vậy. Europe hôm nay mười độ dưới không đấy!"

Tôi vẫn ngồi trong nắng, cười cười, nhìn theo, rồi thở phào.

Bởi vì nó đau nên nó là tuổi trẻ

Rồi sẽ đến một lúc nào đó, chúng ta, không cần ai thuyết giảng, hoặc bị biến cố đả kích, hoặc bình thản an yên, nhận ra thanh xuân là những năm tháng rực rỡ nhưng cũng bi thương nhất. Vì tại thời điểm đó, chúng ta đã cùng lúc gắng sở hữu và nhẫn tâm vứt bỏ những thứ – chỉ – đến – một – lần.
Cứ ngỡ tuổi trẻ như những thước phim quay thử, chúng ta được quyền sai để tập tành cho những dài rộng của cuộc đời vẫn đợi ở sau. Nhưng tiếc rằng, đó lại là những cái sai buộc bản thân phải trả giá đắt. Mà cơ hội làm lại – làm gì có ai vít nổi thời gian để sống thêm lần nữa những ngày đã qua?
Tiếc nuối là từ dành cho lúc đã đứng lại và ngoảnh mặt về phía sau, nên những thứ đánh rơi chỉ khi xoay lưng ta mới giật mình trông thấy. Cũng bởi vì thanh xuân quá ngắn, còn chúng ta, lại thích rong ruổi quẩn quanh, nên lúc định thần mới biết hóa ra mình đã bước qua những ngày xuân xanh kia từ lâu lắm!
Những thứ chưa kịp làm, những điều chưa kịp nói, những người chưa kịp gặp, những tình chưa kịp yêu – tất cả, đã ở lại với dòng thời gian đằng đẵng một chiều.
Ai trong đời mà chẳng mang tiếc nuối cho những sai lầm, chẳng chẹp miệng vì những cơ may đã lỡ, chẳng rưng rức vì một người đã không còn nữa, rồi trách mình vì đâu nên nỗi vô tâm?
Lắm khi, hồi ức giáng mạnh vào đầu, vào tim những dữ dội của ăn năn. Thấy mình ỷ vào những xốc nổi, hợt hời mà ai-cũng-có của tuổi trẻ mà mất đi không ít. Mất đi ước mơ chỉ vừa nghĩ chứ chưa kịp sống chết; mất đi niềm tin nhiều ít vào cuộc đời vốn đã không dư dả màu hồng.
Chúng ta, còn mất đi những non nớt của mối tình đầu, để hiểu, tình yêu đã qua tổn thương giờ còn ít lắm trái – tim mà chỉ toàn lý trí. Chúng ta, những ngày đó còn vụng về với khái niệm níu giữ, nên người ngang qua đời cứ mặc thế, người đi.
Chúng ta, còn mất đi những ngày tháng chỉ thực sự sống cho bản thân, vì những bộn bề, lo lắng, hoang mang mà cuộc đời ủy thác cho những ai muốn lớn. Chập chững va vấp với thác ghềnh, bất giác ta thấy mình cũng nhỏ bé, cô đơn và thèm dựa giẫm. Nhưng chẳng ai còn nỗi bận tâm để chìa tay ra cho ta nắm lấy, vì những vòng ôm cũng đang bận rộn quay cuồng với hàng tá mối lo.
Chúng ta, còn mất đi những khoảng dài thời gian chán nản, bệ rạc với mọi thứ xung quanh. Tuổi trẻ, cứ thế đánh đổi với bất an để học cách vẫy vùng mà tự lớn.
Hôm qua, Thanh Xuân và tôi có cuộc hẹn, nó bảo đã đến lúc phải đi.
– Vội thế ư?
– Vì cậu đã đánh mất đủ rồi.
Tôi lặng người, nhìn Thanh Xuân kinh ngạc.
– Bởi vì nó đau, nên nó là tuổi trẻ.
Nó ghé tai nói tôi lời cuối, rồi bỏ đi, tôi vẫn chưa kịp chào.
(sưu tầm)

Lối đi không có dấu chân người

Khi bước vào tầm tuổi đôi mươi, tôi nghĩ trong mỗi người, dù ít hay nhiều cũng đều có cái gọi là sự trưởng thành. Sở dĩ nói như vậy bởi đó là khi chúng ta bắt đầu phải suy nghĩ, phải lựa chọn một hướng đi cho cuộc đời mình. Nối gót những bậc tiền bối trên con đường họ đã mở ra hay tự chọn cho mình một lối đi mới? Ta cũng phải suy nghĩ nhiều lắm để trả lời câu hỏi ấy.
Còn với nhà thơ người Mỹ Robert Frost thì:

Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi không có dấu chân người

“Lối đi” là con đường, cách thức dẫn ta đến cái đích, cái kết quả mà mình mong muốn. Và thực tế có rất nhiều lối đi! Lối mòn, ngõ cụt, đường quanh co, có con đường dài, còn có cả đường tắt…. Cuộc đời thực cũng có rất nhiều con đường tựa như “một khu rừng có nhiều lối đi”, ngã rẽ, tựa như một bó những sợi dây định mệnh ta cầm trên tay mà không biết sợi nào là dành cho mình. Cuộc đời cũng như một cái mạng nhện khiến ta dễ đi lạc để rồi “mắc bẫy” nếu thiếu sự chủ động và tỉnh táo. “Tôi chọn” là sự chủ động, tích cực trong việc lựa chọn hướng đi cho chính mình. Và ở đây, nhà thơ người Mỹ chọn một “lối đi không có dấu chân người”. Đó là con đường mà chưa ai từng men theo, là một con đường mới, cách thức mới, là kết quả của sự sáng tạo, của những nỗ lực tự khẳng định chính mình. Có thể thấy, Robert Frost có sự chiêm nghiệm sâu sa về lẽ ở đời của riêng ông, rằng những con đường đi tới thành công, tới một cuộc sống hạnh phúc cũng giống như sáu tỉ cánh cửa dẫn tới cõi Niết Bàn, nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm ra cánh cửa của riêng mình với một sự chủ động tích cực, để tạo ra những giá trị thực sự cho cuộc sống.
Có lẽ giờ bạn đang tự hỏi tại sao việc chủ động lựa chọn một lối đi riêng lại cần thiết đến vậy? Có nhất thiết ta cứ phải đứng ra ngoài đám đông thay vì hòa lẫn nó? Vậy thì đầu tiên, hãy nhìn vào chính con người bạn. Mỗi người chúng ta có một khả năng nhận thức, suy nghĩ, quan niệm và cách nhìn khác nhau về giá trị sống và giá trị bản thân. Bạn khác tôi, chúng ta khác nhau và cũng khác rất nhiều người.
Biết đến bao giờ, khi nào ta mới có thể tìm giữa bảy tỉ dân số thế giới kia một con người cùng chí hướng, cùng chung bản chất như ta để cùng đi một con đường, rồi lại san sẻ nhau cùng một số phận. Có thể một lúc nào đó, ta sẽ tìm được nhưng chẳng nhẽ ta lại cứ phải đợi chờ như vậy sao? Hãy dám tự bước đi.
Cuộc sống có nhiều lối đi, thật phong phú biết bao và ở mỗi lối đi lại chứa đựng cả những cơ hội và thử thách. Nếu bạn chọn học theo ngành Y hay Kinh doanh, bạn khởi động chuyến đi bằng việc xin đi du học nước ngoài, thì có thể bạn sẽ có cơ hội để học tập ở môi trường thực tế hơn, năng động hơn nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn như sốc văn hóa, phải tự kiểm soát cuộc sống chính mình, hay tự quản lí thời gian làm sao cho “ngon lành” … Không chỉ vậy, bạn cần nhận thức một thực tế là cuộc sống luôn vận động, phát triển theo quy luật tiến hóa của loài người và cộng đồng. Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Bởi vậy, nếu ta lặp lại một lối đi người khác đã chọn, có thể ta sẽ trở nên lạc hậu, lỗi thời, và không tìm được tới cái đích thành công. Đời cũng như biển vậy, có lúc nào biển ngừng động đâu, và có khi nào con tàu lại không khỏi rung lắc trên sóng cả.
Tuổi mười tám, ta cứ loay hoay như một con rối ở giữa những ngã rẽ cuộc đời vậy. Làm thế nào để tìm được một lối đi cho riêng bản thân mình? Dù làm điều gì đi chăng nữa, trước hết ta cần nhận thức về thực tế đời sống và chính bản thân mình. Hiểu đời và hiểu mình là hai lẽ tất yếu để tạo nên thành công.
Khi bạn có sự hiểu biết về điều kiện, môi trường xung quanh, bạn sẽ nắm bắt được những cơ hội và may mắn. Khi bạn có sự hiểu mình, bạn biết mình cần làm gì, ứng dụng kiến thức gì để đạt được điều bạn muốn. Bên cạnh đó, bạn cần lắng nghe bản thân mình, hãy tìm xem mình đâu là sở trường, là điểm mạnh của mình. Tận dụng thế mạnh cũng có nghĩa là bạn đang tận dụng tối đa năng lực của mình để hoàn thành công việc một cách tốt đẹp nhất. Cũng như chỉ có những hạt mầm tốt mới có thể gieo trồng nên những cái cây đầy sức sống nhất.
Bạn biết không, trong thế giới của chúng ta có những “ông trùm” – họ rất thú vị và khôn khéo từ khi còn nhỏ. Như ông trùm xứ Omaha, người giàu thứ ba thế giới Warren Buffett, từ khi chỉ mới là một đứa trẻ mười một tuổi, thường lân la đến nơi cha làm việc đã tự mình tìm hiểu về những con số khô khan trên bản niêm yết giá ở Harris Upham. Ông còn có một khả năng tính toán rất nhanh và chính xác và từ khi lên tám tuổi đã đọc các cuốn sách về thị trường chứng khoán. Những tư duy đầu đời đó đã khơi nguồn cho ý tưởng mua cổ phiếu và đầu tư, những bước đi đầu tiên trên chặng đường làm giàu. Ta tự hỏi nếu như những con số kia không lọt vào óc của cậu bé Warren Buffett, nếu như cậu bé đó không biết tận dụng những đồng tiền nhỏ lẻ của mình để mua cổ phiếu, nếu như cậu bé không biết tận dụng khả năng tính toán chính xác của mình vào các chiến lược đầu tư kinh doanh, thì hẳn ta đã không biết đến một nhà đầu tư tài ba bậc nhất Warren Buffett của ngày hôm nay. Còn ông trùm máy tính Bill Gates thì sau khi đã nạp đầy bộ nhớ của mình những cuốn tạp chí kinh doanh khi mới mười lăm tuổi, đã cùng một người bạn thân đi kinh doanh huy hiệu trong cuộc vận động tranh cử tổng thống. Cậu bé này đã bỏ tiền ra mua năm nghìn huy hiệu với giá năm xu một cái. Sau đó, khi những chiếc huy hiệu này được những người sưu tầm săn lùng, cậu bán lại với giá hai mươi lăm đô một cái. Câu chuyện này không liên quan đến máy tính, nhưng lại là một bài học cho tất cả những người theo đuổi giấc mơ kinh doanh.
Không phải ai đi rồi cũng sẽ đến đích theo ý mình. Bởi một con đường mới đem đến cho ta cả cơ hội và cả những khó khăn thử thách. Để vượt qua những trở ngại đó, ta không chỉ dựa trên năng lực bản thân mà còn cần tự củng cố cho mình về mặt tinh thần. Giả dụ như bạn hình thành một ý tưởng lớn, một ý tưởng mới, một ý tưởng có khả năng thay đổi chính bạn một cách tích cực nhất.
Có thể đồng nghiệp yêu quý bạn, nói rằng họ ủng hộ bạn, nhưng thực chất không phải ai cũng mong chờ sự thay đổi của bạn đâu. Có rất nhiều người mà sâu trong thâm tâm họ muốn mọi thứ cứ nguyên vẹn, để họ không phải làm quen lại với con người mới sau này của bạn, và thay đổi động lực của họ với bạn. Đó là bởi ý tưởng mới, con đường mới hoàn toàn có thể thay đổi cán cân quyền lực.
Lúc này chỉ còn lại mình bạn bơ vơ ở chính nơi mình làm việc, và đó cũng là lúc bạn cần tỉnh táo và củng cố niềm tin của mình hơn bao giờ hết. Bạn cần có một thái độ sống can đảm, dám đương đầu với dư luận, chịu trách nhiệm về công việc của mình. Ngay trong thực tế, bạn cũng có thể tìm thấy những tấm gương nổi bật. Đó là Khánh Thy – kiện tướng dancesport, người đã mang bộ môn khiêu vũ thể thao của thế giới đến với Việt Nam. Có thể nói đây là một điều rất khó khăn bởi đã có thời điểm, người dân ta có cái nhìn không tích cực lắm về bộ môn nghệ thuật này. Đó còn là LK, Mr.T, … những cái tên còn rất trẻ nhưng đã xây dựng và phát triển nền rap Việt, một hình thức nghệ thuật rất mới ở Việt Nam và thậm chí, những người lớn tuổi còn cho rằng nó rất điên loạn, trở nên phổ biến và được nhiều bạn trẻ đón nhận và yêu thích. Chọn một lối đi cho riêng mình, đôi khi cũng là một cách thử bản lĩnh của chính mình.
Bên cạnh đó, ta cần có sự nhạy bén với những cơ hội. Hãy tự biến mình thành chiếc ra đa bén nhạy để có thể bắt “sóng” cơ hội ở mọi thời điểm. Và hơn hết là khả năng hành động, giải quyết yêu cầu của công việc. Một người bị câm thì không thể trở thành một nhà diễn thuyết nổi tiếng được. Thay vì cứ mông lung giữa những suy nghĩ không rõ ràng về con đường riêng mà ta chọn, tôi nghĩ chúng ta nên cầm bút và viết ra những gì ta có thể làm, những gì ta tự tin mình hoàn thành tốt. Như tôi đã nói ở trên, bạn cần phải nhìn ra điểm mạnh của mình, và đặc biệt là hãy sử dụng nó như những chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn tới thành công. Tuy vậy, ta cũng cần nhận thức một điều rằng không phải chỉ có tạo ra một con đường riêng, ta mới có thể thành công. Trong cuộc sống xung quanh ta vẫn có rất nhiều những người, dù không có một định hướng mới mẻ, khác biệt, họ vẫn tạo nên dấu ấn của riêng mình. Dù bạn đi trên con đường đã từng có dấu chân người, thì bằng trí óc, tâm hồn mình, bạn vẫn tạo nên hương sắc riêng cho những tạo vật trên đường.
Có thể nói hai câu thơ của Robert Frost là một nguồn độc lực thôi thúc con người, đặc biệt là những người trẻ tuổi trẻ lòng đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời có nhiều cơ hội cũng như rủi ro. Và cũng chính nó đã tạo nên một nguồn cảm hứng sáng tạo để con người tìm ra một con đường mới chủ động hơn. Không chỉ vậy, tác giá của hai câu nói này là một nhà thơ – người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, một lĩnh vực đòi hỏi sự sáng tạo dồi dào. Bởi vậy, tiếng thơ kia còn là một yêu cầu nghiêm khắc người nghệ sĩ cất lên để nhắc nhở bản thân mình cũng như những ai cầm bút sáng tác, rằng nghệ thuật phải đi cùng với sự sáng tạo. Sáng tạo làm nên giá trị và ý nghĩa cho cả tác phẩm và người viết, như Suối nguồn, cuốn tiều thuyết hay nhất thế kỷ XX của Ayn Rand, hay một Harry Potter kinh điển của bà góa phụ J. K. Rowling của thế kỷ XXI …

Tuổi hai mươi bạn thấy mình như một con thiêu thân vậy, luôn khát khao hướng về ánh sáng bất chấp sức nóng của lửa đèn. Đã đến lúc những người trẻ tuổi trẻ lòng như tôi, như bạn cần tỉnh táo tìm cho mình một lý tưởng, một lối đi. Lối đi đó có thể riêng, có thể chung nhưng điều quan trọng là hãy để tâm hồn và trí óc bạn lan tỏa tinh hoa cho nhân loại. Và dù bạn ở đâu, làm gì, cuộc sống có ra sao, bạn cũng cần luôn thôi thúc mình sáng tạo và bản lĩnh đi tới cùng những ý tưởng, định hướng của mình. Hãy trở nên khác biệt một cách tích cực, cho dù xung quanh ta, có những con người không thỏa mãn với điều đó của ta. Cái giá của việc làm cừu là nhàm chán, cái giá của việc làm sói là cô đơn. Vậy bạn chọn làm cừu hay làm sói?
(sưu tầm)