Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

Phá Thai = Tội Ác

kimkelly

Bạn hạnh phúc khi được sinh ra trong cuộc đời, được che chở và bảo bọc trong sự yêu thương và nâng niu của cha mẹ. Bạn lớn lên, trưởng thành, học hành giỏi giang, ra ngoài làm việc, lập gia đình, và có con cháu. Gia đình ấm êm, sum vầy. Viễn cảnh đó quá tuyệt vời, quá hoàn hảo để ai cũng hy vọng và mơ ước mình sẽ có được một gia đình như thế.
Nhưng trong cuộc sống hiện tại, với biết bao lo nghĩ và trăn trở, không phải mọi việc đều suôn sẻ theo ý mình mong muốn. Với lý do này, con người tự cho mình có cái quyền giết chết những sinh mạng vô tội chưa được biết đến ánh sáng cuộc đời. Đó là vấn nạn nạo phá thai đang rất nhức nhối trong xã hội hiện nay. Họ xem nó là hình thức để trút bỏ gánh nặng, để giảm thiểu dân số, và để thỏa mãn những lợi ích riêng tư của chính họ. 

Rất nhiều người đã lên án, chỉ trích, và ngăn cản hành động vô nhân tính này nhưng dường như những tiếng nói nhỏ nhoi ấy chẳng có chút ảnh hưởng nào đối với một tập thể rộng lớn bao gồm chủ nhân của bào thai, bác sĩ, trợ lý, gia đình, và xã hội. Chưa một đất nước nào có điều luật người đi phá thai sẽ trở thành hung thủ giết người và cũng sẽ bị mức án nặng như những kẻ giết người khác. Chính vì thế, họ dửng dưng tước bỏ quyền được sống của một mầm non, giết chết một sinh mạng vô tội không được phép kêu xin và không được pháp luật bảo vệ. Đó là tội ác, một tội ác không thể tha thứ và không thể chấp nhận dưới mọi hình thức. 

Đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh, cũng đừng lôi những lý do không xác thực để biện hộ, để bào chữa cho hành động vô nhân tính của mình. Cuộc sống cho ta rất nhiều lựa chọn. Phải chăng chối bỏ chính đứa con của mình là lựa chọn duy nhất?

Tôi – một sinh viên y khoa năm thứ 6 nhưng chưa từng chứng kiến một ca nạo phá thai bao giờ, cũng chưa từng biết đến một người quen nào của tôi có ý muốn làm chuyện đó, nhưng những gì tôi đọc được trên báo, nghe được trên radio, và nhìn thấy trên tivi đã là một dấu ấn rất khó quên và thật tàn khốc. Tôi không thể tưởng tượng được một người mẹ lại có thể tàn nhẫn giết chết mầm sống đang lớn lên từng ngày trong thân thể mình, cũng không thể nào hiểu được động cơ nào đã khiến cho những y bác sĩ dám làm những việc như vậy. Đâu là tình mẫu tử? Đâu là lương tâm nghể nghiệp của y học? Phải chăng khi con người bị cuốn vào vòng xoáy tấp nập của cuộc sống, họ không biết dừng lại để suy nghĩ rằng: ai cho họ cuộc sống đó, ai là người đã dẫn họ đến với ánh sáng đầu tiên của cuộc đời? Khi họ nhẫn tâm chối bỏ và giết chết sinh mạng nhỏ bé ấy, họ có bao giờ nghĩ lại nếu như cha mẹ của họ cũng hành động như vậy thì liệu họ có được đứng trên hai đôi chân khỏe mạnh, có sử dụng được 2 đôi bàn tay mà làm tội ác này không? 

Bạn bè nói tôi nhìn sự việc theo hướng tiêu cực quá, quan điểm của tôi cổ hủ và lạc hậu quá. Thời đại này, vấn đề đó không có gì là to lớn cho lắm, ai cũng có thể làm và ai cũng có nguyên do của họ. Có người vì nhà nghèo, không đủ tiền lo cho con cái no đủ, không muốn phải gánh thêm gánh nặng nữa. Có người sống trong gia đình trọng nam khinh nữ, bắt buộc phải có nam nhi để nối dõi tông đường, còn con gái thì không cần thiết. Có người vì một phút lỡ dại mà mang thai, vì mặt mũi và vì sĩ diện của gia đình, không muốn mang tai tiếng thêm nữa. Tất cả những lý do đó nghe ra thì hợp lý hợp tình, nhưng ai phạm tội mà chẳng cho mình cái cớ để bám víu vào để có thể cảm thấy thoải mái và nhẹ nhõm hơn. Chúng ta nói ông bà cha mẹ là lạc hậu, thì chỉ với quan điểm phóng khoáng này, chúng ta hiển nhiên trở thành già dặn và lạc hậu hơn người xưa nhiều. Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao những gia đình thời xưa luôn có từ hai đến ba con trở lên không? Gia đình trung bình cũng có khoảng năm, sáu người con rồi. Trai có, gái có, giàu có, nghèo có. Họ lấy gì để nuôi sống bản thân và gia đình? Họ cũng có nỗi sợ hãi và ám ảnh khi phải đối đầu với đói rét và bênh tật, phải chịu cảnh màn trời chiếu đất để sống qua ngày. Nhưng thời xưa dường như vấn đề phá thai không rầm rộ và phổ biến như bây giờ. Phải chăng vì nhịp sống của thời đại quá nhanh đã bỏ xa những giá trị đạo đức tinh thần, hay con người thời đại không bằng con người thời xưa? Nếu nói rằng xã hội tiến bộ, khoa học kỹ thuật ngày càng cao thì con người sống trong xã hội ấy phải có đầu óc văn minh và trí  thức hơn. Họ phải sử dụng trí thông minh và chất xám của mình vào việc nâng cao đời sống và phục vụ cho xã hội, bản thân, cũng như gia đình họ. Tại sao lại chôn vùi tài năng và đạo đức của chính mình trong những việc làm mất nhân tính như thế? 

Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao lại có những người chịu bỏ ra bao nhiêu ngàn đôla chỉ để được thụ thai dù chỉ 1 lần? Khi bạn có câu trả lời, bạn sẽ hiểu tại sao tôi lên án và căm ghét nạn phá thai đến như vậy.

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2011

Tại sao nó giỏi vậy cà?

Tại một bãi biển đẹp ở Florida... Có 3 người đàn ông đang nằm nghỉ ngơi trên 3 ghế bố gần nhau, bãi biển vắng lặng vì đang giữa tuần. Cả 3 đều không quen biết nhau.
Ông thứ 1 nhìn 2 ông kia rồi bắt chuyện, rồi cả 3 ông bắt đầu kể về lý do tại sao giờ này đáng lẽ phải làm việc cật lực trong thời củi quế gạo châu này chứ đâu có thảnh thơi an nhàn như vầy.
Ông thứ 1: “Tôi đang là chủ một nhà hàng lớn bên Canada. Đang làm ăn ngon lành, thì bị nhân viên kiểm dịch của Bộ Y Tế đến khám và đóng cửa cho đến khi tôi giải quyết xong nạn chuột và gián thì mới được mở lại, lại thêm nạn "bảo kê" của băng đảng, và phải có giấy phép bán rượu, bia rất khó xin và phải đóng nhiều tiền! Tôi đã muốn bán lỗ tiệm và nghỉ luôn. Nhưng may quá, 6 tháng trước bỗng nhiên nhà hàng bị cháy, bảo hiểm trả cho tôi được 3 triệu, lại còn được đền bù income bị mất và sức khoẻ bị ảnh hưởng, tôi ký kết với luật sư chia 30% tiền đền bù nên còn dư được 2 triệu, còn tiền lãnh hàng tháng bù trừ, nên giờ nghỉ ngơi nếu cần thì giải nghệ luôn”.
Ông thứ 2: “Tôi có một rehabilitation center, trước đây thì bảo hiểm trả tiền rất đậm, người bị thương đủ kiểu đến với tôi đều được tôi và nhân viên của tôi tiếp đãi ân cần, cho xe Mercedes đến rước tận nhà đến để tập vật lý trị liệu mỗi ngày, có lời lắm vì tôi chỉ thuê một chiropractor mới ra trường, trả lương cũng rẻ, receptionist thì tôi mời mấy em đẹp, sexy, ăn nói lưu loát và có tài quảng cáo. Nhưng lương nó đòi gấp đôi chiropractor. Đang làm ăn ngon lành, thì bị chính phủ cắt ngân sách nên trả ít lại, bảo hiểm cũng vậy, tôi đang bị khốn đốn thi bỗng nhiên Clinic bị nghẽn ống cống, nước cống tràn vào làm ô nhiễm, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, bảo hiểm bồi thường được 5 triệu, sau khi trả cho luật sư 2 triệu, tôi còn 3 triệu và các benefit khác, nên giờ đây mới ngồi đây”.
Ông thứ 3: “Tôi là chủ một nông trại rất lớn, trồng trọt và chăn nuôi bò giống và bò sữa, sản xuất đủ các loại lương thực thực phẩm cung cấp 15% sản phẩm cho nước Mỹ, nhưng chẳng may một cơn tornado ập tới cuốn phăng đi tất cả những gì đang có. Tôi được bảo hiểm bồi thường và chính phủ trợ giúp vì nếu không sẽ có khoảng hơn 10 nghìn công nhân thất nghiệp, tôi được đền bù khoảng 300 triệu USD. Và được đề nghị đi nghỉ mát để phục hồi sức khoẻ để về lại nông trại chỉ huy sau khi đã được xây dựng lại . Thôi, đã đến giờ tôi phải về khách sạn để bác sĩ khám sức khoẻ mỗi ngày rồi, hẹn gặp lại!”
Ông thứ 3 đi rồi, 2 ông kia ngồi lại bàn tán : “Tại sao nó giỏi vậy cà? làm sao nó tạo được tornado vậy kìa?”                                                  
(Truyện do bạn Nguyễn Tăng Tri viết lại sau khi nghe kể)

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Thư gửi Sinh Viên Y Khoa 20 : HỘI CHỨNG THẬN HƯ NGUYÊN PHÁT & THỨ PHÁT

Thưa thầy
Em là sinh viên DHYD, em muốn nhờ thầy chỉ dẫn dùm em một vài thắc mắc về  hội chứng thận hư ạh
Trong sách nội hay nhi viết về bài hội chứng thận hư thì em thấy có phân ra hội chứng thận hư nguyên phát và thứ phát nhưng chỉ nói về sang thương giải phẫu bệnh của nguyên phát không nói thứ phát. Em đi lâm sàng có 1 bệnh nhi sinh thiết ra FSGS, em tìm trên mạng thì thấy FSGS cũng có thể do các nguyên nhân như thuốc, HIV,...Vậy tức là sang thương này có thể nằm cả trong HCTH thứ phát phải không ạh
Em xin cám ơn thầy,
V. Hung
V.Hung  thân mến
Bệnh cầu thận là một tập hợp các bệnh lý tổn thương tại các cầu thận (đơn vị siêu lọc của thận), do cơ chế viêm/ miễn dịch (nhiễm trùng, ung thư, lupus) hoặc không do viêm (đái tháo đường, tật bẩm sinh di truyền).
Biểu hiện chung của các bệnh cầu thận là một tình trạng rối loạn tính thấm chọn lọc của màng lọc cầu thận, hệ quả, bệnh nhân sẽ bị tiểu nhiều đạm và/ hoặc tiểu máu.
Bệnh cầu thận được gọi là NGUYÊN PHÁT khi ta không tìm thấy một bệnh hệ thống hoặc một nguyên nhân gây bệnh nào khác ngoài bệnh lý tại cầu thận.
Bệnh cầu thận được gọi là THỨ PHÁT khi có nguyên nhân là một bệnh ảnh hưởng hệ thống, lẽ dĩ nhiên sẽ có them nhiều biểu hiện khác ngoài cầu thận, như bệnh đái tháo đường, lupus, viêm mạch máu, nhiễm trùng và một số loại ung thư. Ví dụ, bệnh cầu thận do đái tháo đường, ngoài triệu chứng tiểu đạm do các sang thương tại mao mạch cầu thận, bệnh nhân còn bị tăng đường huyết, tổn thương đáy mắt, các triệu chứng thần kinh, mạch máu, bàn chân . . . hoặc bệnh cầu thận do lupus, bệnh nhân không chỉ tiểu đạm, tiểu máu mà còn đau khớp, thiếu máu tán huyết, giảm bạch cầu, nỗi hồng ban cánh bướm 2 gò má . . .
Một số tác giả sử dụng từ "hội chứng thận hư nguyên phát" hay "hội chứng thận hư thứ phát" thay vì dùng từ bệnh cầu thận nguyên phát hay thứ phát, có lẽ vì họ cho rằng hội chứng thận hư hầu như chỉ xảy ra trên các bệnh nhân mắc bệnh cầu thận nên có thể thay thế qua lại như vậy(!) Theo tôi, chỉ nên phân biệt là hội chứng thận hư THUẦN TÚY (không tiểu máu, không tăng HA và không suy thận) hay hội chứng thận hư KHÔNG THUẦN TÚY (có tiểu máu hoặc tăng HA hoặc suy thận).
Dù là bệnh cầu thận NGUYÊN PHÁT hay THỨ PHÁT, biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của chính các tổn thương cầu thận trên các bệnh nhân cũng thường giống nhau, cũng có phù, tiểu ít, tiểu đạm và/ hoặc tiểu máu. Đặc biệt, các sang thương giải phẫu bệnh của cầu thận NGUYÊN PHÁT hay THỨ PHÁT cũng thường giống nhau, ví dụ bệnh cầu thận xơ chai khu trú từng phần nguyên phát và xơ chai khu trú từng phần thứ phát do béo phì, bệnh cầu thận màng nguyên phát và bệnh cầu thận màng thứ phát do bệnh lupus . . . Do đó, ta không thể chỉ căn cứ vào một hình ảnh giải phẫu bệnh để kết luận ngay được bệnh cầu thận đó là NGUYÊN PHÁT hay THỨ PHÁT, mà phải thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng tìm các biểu hiện ngoài cầu thận và làm thêm các xét nghiệm truy tìm nguyên nhân như ANA, ASO, các kháng thể viêm gan siêu vi B,C, HIV, đường huyết, XQ phổi, siêu âm bụng, tìm khối u, xét nghiệm máu ẩn trong phân tìm K đường tiêu hoá
Đôi khi, tổn thương cầu thận lại chính là biểu hiện đầu tiên của một bệnh hệ thống, ví dụ, bệnh cầu thận màng trong một số ung thư, bệnh nhân được chận đoán hội chứng thận hư do bệnh cầu thận màng trước khi tìm được vị trí khối u.
Cũng có nhiều bệnh hệ thống có thể chẩn đoán nhờ sang thương giải phẫu bệnh qua sinh thiết thận, ví dụ thoái biến dạng bột, ngộ độc thuốc, sarcoidosis.
Trong một số bệnh hệ thống, kết quả giải phẫu của bệnh cầu thận còn giúp xác định hoạt tính của bệnh và hướng dẫn chọn lựa điều trị phù hợp (lupus)
Chào em
                     Tiểu đạm
                     Tiểu máu
                     y khoa lâm sàng đang chết dần

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

VỀ MIỀN TÂY NGHE NHẠC TÀI TỬ NAM BỘ

Thy Anh
Ông Bảy đờn ca tài tử xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, Bến Tre, hiện là thầy dậy đờn cho nhiều thanh niên trong xã muốn kiếm sống bằng nghề đờn ca phục vụ . . . đám ma. (thyanh photo – Canon 350D f 5.6)

Hò ơ . . . chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm.
Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu.
Chiếu này tôi chẳng bán đâu.
Tìm cô không gập,
Hò ơ . . . tìm cô không gập, tôi gối đầu mỗi đêm . . . .
(trích bài vọng cổ "Tình Anh Bán Chiếu" của cố soạn giả Viễn Châu)

Cách nay 30 năm, nếu về miền Tây Nam Bộ, đi đâu chúng ta cũng có thể nghe được những bản cổ nhạc hay nhạc tài tử nam bộ, hoặc nghe trên xe đò, trong tiệm ăn hoặc trong một quán cà phê giải khát ven đường. Bây giờ thì khác rồi, các bạn chỉ có thể nghe được ở đó những bản nhạc V-Pop, nhạc rap hoặc những vở tấu hài. Ca nhạc tài tử chỉ được trình diễn như những món quà ra mắt cho các du khách đến Đồng Bằng sông Cửu Long.
Có lẽ, mỗi địa phương phải tìm được cách giáo dục cho con cháu biết giữ bản sắc văn hóa riêng của mình để sau này, dù có đi xa vẫn có cái để nhớ về quê cha đất tổ. Đặc biệt đối với ngành du lịch, việc phát hiện được những nét văn hóa đặc thù của mỗi vùng, chính là những yếu tố hấp dẫn du khách nhiều nhất. (xem thêm ...)
Về miền Tây Nam bộ, không gì thú vị hơn khi bạn được ngồi thảnh thơi trên một chiếc xuồng ba lá, thả trôi trên sông, trong ánh nắng chiều, nghe đâu đó văng vẳng bên bờ một bài ca vọng cổ với tiến đờn ghi ta phím lõm.
Thật ra, tôi cũng không hay nghe đờn ca tài tử đâu, nhưng mỗi lần có dịp về miền Tây, tôi lại thích nghe và cảm thấy chỉ có ở đấy, những bản nhạc đờn ca tài tử nghe hay hơn rất nhiều. Thật vậy, nếu nghe một bản nhạc rap xí xô xí xào giữa vùng sông nước miệt vườn thì thật là hết sức lạc lõng, chẵng khác gì ăn chè bà ba lại bị ai lén rắc thêm muối tiêu vậy.

không gì thú vị hơn khi bạn được ngồi thảnh thơi trên một chiếc xuồng ba lá, thả trôi trên sông, trong ánh nắng chiều, nghe đâu đó văng vẳng bên bờ một bài ca vọng cổ với tiến đờn ghi ta phím lõm . . .
Nhạc tài tử có lẽ hình thành vào cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ. Theo Sơn Nam, vào khoảng năm 1890, ông Nguyễn Quang Đại (sau này vì tránh phạm húy, gọi là "Đợi") là một nhạc sĩ lừng danh của đội nhạc của triều đình Huế, đã di cư vào Nam. Là người yêu nước, ông theo phò vua Hàm Nghi chống Pháp, nhưng cuộc khởi binh bất thành, vua Hàm Nghi phải rời khỏi kinh đô đi chiến khu Quảng Trị, một số quan lại yêu nước đã chuẩn bị chống cự lâu dài. Tiếc thay, lực lượng địch quá mạnh, tổ chức của quan quân còn sơ sài, bị bao vây, thiếu lương thực, chiến khu lại là nơi ma thiêng nước độc. Về sau bị tên Việt gian chỉ điểm, vua Hàm Nghi bị bắt, đầy đi Bắc Phi. Ông Nguyễn Quang Đại buồn rầu mang chí lớn vào Nam, không đánh được giặc bằng quân sự thì chuyện có thể làm là cố bảo vệ và phát huy văn hóa truyền thống. Học trò theo học ông khá đông, ngày nay nhiều nhạc sĩ già mãi còn được tôn kính, mặc dầu họ thuộc vào hàng thế hệ thứ ba. Có lẽ trên đường vào Nam, họ đã dừng chân khá lâu ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam nên tiếng đờn giọng ca xứ Huế đã pha thêm chút hương vị xứ Quảng (xem thêm ...). Nhưng đến khi vào Nam, có lẽ vì bản chất của con người và nếp sống phóng khoáng của miền Nam mà tiếng đờn miền Trung lại thay đổi thêm rất nhiều, thậm chí một số bài tuy mang cùng tên nhưng nét nhạc đã khác xa. Người đờn, người ca không giữ nguyên si những gì thầy đã dậy mà luôn thêm thắt, thay đổi, đưa chút phong cách riêng hòa vào cái chung khiến người nghe thấy đậm đà thấm thía hơn. Chắc các bạn cũng đồng ý với tôi về một đặc điểm chung cuả tất cả các bài cổ nhạc ấy là âm điệu lúc nào nghe cũng như phảng phất một nỗi buồn mang mác, dù là một bài bản ca ngợi một niềm vui nào đó, có lẽ do các nghệ sĩ sáng tác mãi mang một tấm lòng thương nhớ cội nguồn.
Đến năm 1919, tại quê hương Bạc Liêu, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang (vọng cổ ngày nay) - bài nòng cốt của 20 bài tổ của đờn ca tài tử ca nhạc cải lương, và đã nhanh chóng được lan truyền ở Nam Bộ rồi ra khắp cả nước, nghệ thuật đờn ca tài tử đã tiến lên đến thời kỳ huy hoàng nhất.
Khác hằn với bây giờ, thời xưa, biết cổ nhạc là biểu hiện của người có trình độ văn hóa. Đặc biệt ở Long An, người miệt Cần Đước, không phân biệt giàu nghèo, vẫn say mê học cổ nhạc.
Ngày nay, tuy không còn được phỗ biến như trước, nhạc tài tử vẫn tồn tại và phát triển cùng với nghệ thuật sân khấu cải lương, góp phần làm đẹp cho bản sắc văn hóa đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều sinh viên Mỹ và Châu Âu đã tìm đến Đại Học Cần Thơ để học về đờn ca tài tử.

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

TRÌNH BỆNH ÁN: Một trường hợp khó thở + tăng Peptid Lợi Tiểu Natri (Brain Natriuretic Peptide - BNP)

Bác sĩ Nguyễn văn Đích

Một trường hợp bệnh lý
Bệnh nhân nam 88 tuổi cao áp huyết, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, đã bị tai biến mạch não nhiều lần, liệt cứng nửa người phải, thường bị sặc khi ăn, thường nằm trên giường, mặc tã. Bệnh nhân vào viện vì xuất huyết tiêu hóa dưới nghi do túi thừa đại tràng, sinh hiệu ổn, áp huyết 136/80, hemoglobin 12g% . Bệnh nhân không còn chảy máu, ngược lại đang bị táo bón, lưỡi khô, chuẩn bị soi ruột già, được cho ăn bột (purée), truyền dung dịch D51/2NS với tốc độ 100ml/giờ, lượng nước vào 3600ml, ra 1200ml trong 24 giờ.
Từ 3 giờ chiều, bệnh nhân bắt đầu thở khò khè, đến 5 giờ khó thở dữ dội.
Y tá phụ trách điện thọai, giọng mất bình tĩnh, báo bệnh nhân tím ngắt, thở 46/p, mạch 140/p, áp huyết 125/70, phổi có ran ẩm (y tá ở Mỹ được dùng ống nghe). Y lệnh khẩn: ngừng truyền dịch, oxy 2l/p bằng ống thở qua mũi, Lasix 40mg tĩnh mạch ngay lập tức, chuyển săn sóc tích cực.
Cảm nghĩ: Phù phổi cấp do quá tải? Cần lọai trừ: Viêm phổi hít?, thuyên tắc mạch máu phổi?, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính trở nặng?, Nhồi máu cơ tim?
Thăm khám tại SSTC: bệnh nhân tỉnh, ổn định hơn, tĩnh mạch cổ nổi ở 45 độ, gan không lớn chân không phù, tim nhanh đều không nghe T3 hay T4, phổi trong. Tiểu đuợc 900ml trong 2 giờ. Điện tâm đồ: nhịp xoang nhanh dều, bloc nhánh phải không hòan toàn, ST-T bình thường. Phim phổi tại giường: thâm nhiễm mô kẽ, có một vết mờ ở đáy trái, không tràn dịch. Bác sĩ X-Quang nghĩ là viêm phổi hít vì tiền căn tai biến mạnh não nhưng cũng không lọai bỏ khả năng phù phổi vì “phim phổi không có tính chuyên biệt”. Bác sĩ chuyên khoa phổi cũng nghĩ viêm phổi hít nhưng khi thấy bệnh nhân tiểu được nhiều và xét nghiệm khí trong máu động mạch (Arterial Blood Gases) cải thiện sau lợi tiểu, cũng đồng ý là phù phổi tuy vẫn muốn cẩn thận điều trị bằng kháng sinh và steroid tĩnh mạch.
Xét nghiệm cho thấy BNP (Brain Natriuretic Peptid) cao 690 pg/ml, troponin cao 2.2
D Dimer bình thường. Bệnh nhân được chẩn đoán là suy tim, quá tải, nhồi máu cơ tim không có sóng Q, không lọai trừ viêm phổi hít.
Dùng Peptid Lợi Tiểu Natri (BNP) làm Dấu ấn Sinh học (biomarkers)
Các chất peptid lợi tiểu natri đã được biết từ 1981. Peptid lợi tiểu natri tâm nhĩ (Atrial Natriuretic Peptides-ANP) là kích thích tố do tế bào tâm nhĩ tiết ra khi tâm nhĩ bị căng do thể tích máu lưu thông tăng. Peptid lợi tiểu não (Brain Natriuretic peptides-BNP) cũng tăng sự bài tiết natri giống như ANP.
BNP lúc đầu được nhận thấy ở não nhưng chủ yếu do tế bào tâm thất tiết ra. Sự tiết ANP và BNP tăng trong suy tim khi áp suất trong buồng tim tăng.
ANP và BNP đều tăng thải natri trong nước tiểu, do đó có tác dụng lợi tiểu và hạ huyết áp. ANP và BNP ức chế hệ thống renin-angiotensin, endothelin và họat tính giao cảm tại thận và trong cơ thể. Tăng tiết ANP và BNP trong suy tim có lợi vì ngăn cản tác dụng của norepinephrine, endothelin và angiotensin II, hạn chế sự co mạch và ứ đọng sodium. BNP tăng cao hơn ANP nên ta ứng dụng đặc tính này để chẩn đoán suy tim.
1. Dùng BNP để chẩn đoán suy tim - Trong nghiên cứu “Breathing Non Properly” BNP tăng cao ở bệnh nhân khó thở do suy tim so với bệnh nhân khó thở không do suy tim 675 so với 110 pg/lm. BNP trên 500 pg/ml chẩn đoán suy tim, BNP dưới 100 pg/ml lọai bỏ khả năng suy tim. Nồng độ BNP trong huyết tương tương ứng với mức độ suy tim trong bảng phân lọai suy tim của Hội Tim Học Nữu ước, tăng từ 244 đến 817 pg/ml trong suy tim từ lọai I dến lọai IV.
2. Dùng BNP tại phòng cấp cứu để chẩn đoán các trường hợp khó thở: tỏ ra có lợi - Mueller và csv nghiên cứu dựa trên 452 bệnh nhân khó thở cho thấy dùng BNP để chẩn đoán giúp giảm số bệnh nhân nhập viện, hoặc nhập săn sóc tích cực, giảm số ngày điều trị và giảm giá thành điều trị.
3. Dùng BNP để hướng dẫn sự điều trị - BNP có thời gian bán hủy ngắn, do đó có thể theo dõi lượng BNP để điều chỉnh sự điều trị trong suy tim cấp cũng như mãn.
4. Dùng BNP để đánh giá tiên lượng – Trong thử nghiệm Val-HeFT, những bệnh nhân có nồng độ BNP trong phần tư cao nhất (highest quartile- 238 pg/ml) có ỉt lệ tử vong trong 2 năm cao hơn số bệnh nhân có nồng đọ BNP trong phần tư thấp nhất (lowest quartile-dưới 41 pg/ml). BNP tiếp tục cao sau khi đã điều trị tối đa cho thấy tiên lượng xấu.
5. Dùng BNP để tiên lượng các biến chứng - Trong “Nghiên cứu bệnh tim Framingham”, nồng độ BNP căn bản cao trên tỉ suất 80% (above the 80th percentile) liên hệ với sự gia tăng rõ rệt của suy tim, tử vong do mọi nguyên nhân, rung nhĩ, tai biến mạch não và cơn thoáng thiếu máu não. Trong nghiên cứu dựa trên 2525 bệnh nhân bị hội chứng vành cấp, tỉ lệ tử vong sau 6 tháng càng cao khi BNP càng cao. Trong số các bệnh nhân bị cơn đau thắt ngực mãn, nồng độ BNP trên 100 có nguy cơ biến chứng gấp 6 lần so với số bệnh nhân có BNP dưới 12 pg/ml.
Nhận định chung : dùng BNP kết hợp với lâm sàng làm tăng sự chính xác của chẩn đoán suy tim. Cũng cần ghi nhận rằng BNP tăng theo tuổi, cao hơn ở phụ nữ so với nam giới, tăng trong suy thận và thấp ở người mập. Phần lớn các bệnh nhân khó thở vì suy tim có nồng độ BNP trên 400 pg/ml trong khi trị số dưới 100 khiến có thể lọai bỏ suy tim. Trị số từ 100-400 không giúp xác định hay lọai bỏ suy tim, có thể do thuyên tắc mạch máu phổi, bệnh tim phổi (tâm phế mạn-cor pulmonale). Như vậy BNP cao cũng không loại bỏ các nguyên nhân gây khó thở khác.
BNP có thể không cần thiết trong trường hợp bệnh nhân này nếu ta tận dụng các yếu tố lâm sàng như lượng nước xuất nhập, nghe tiếng ngựa phi T3, T4, tĩnh mạch cổ nổi…lưỡi bệnh nhân này khô vì ông chỉ còn răng cửa của hàm dưới và thở bằng miệng chứ không phải vì thiếu nước. Tiếng T3 tuy tương ứng với giảm cung lượng tim nhưng không luôn luôn nghe được.
Phải nhận rằng nhiều thầy thuốc ngày nay, nhất là ở Mỹ, ít để thời giờ bên người bệnh vì quá bận rộn, mặt khác lại muốn dựa vào xét nghiệm vì có tính khách quan là bằng chứng bênh vực cho chẩn đoán và bảo vệ thầy thuốc nếu chẳng may diễn tiến xấu hoặc xảy ra kiện tụng (!)
Ngày nay ta có nhiều dấu ấn sinh học (biomarkers), nhưng tất cả không có giá trị giống nhau nên cần được dùng một cách có tính toán. Dùng các dấu ấn sinh học kết hợp với suy luận lâm sàng có thể giúp chẩn đoán chính xác và điều trị hữu hiệu hơn do đó sẽ giảm được tỉ lệ tử vong và giả thành điều trị.
Tài liệu tham khảo:
Mueller C.và csv: Use of B-Type Natriuretic Peptide in the Evaluation and Management of acute Dyspnea.N Engl. J. Med, 2004;350:647;
Wang TJ và csv: Plasma natriuretic peptide levels and the risk of cardiovascular events and death. N Engl. J. Med., 2004; 350:655;
Mueller C. và csv: Cost-effectiveness of B-Type Natriuretic Peptide Testing in Patients with Acute Dyspnea. Arch Intern Med 2006; 166:1081;
Hlatky M. và csv: The Value of BNP testing. Arch Intern Med 2006; 166:1063;
B-Type Natriuretic Peptide- A biomarker for All Seasons? N Engl J Med 2004: 350:718; De Lemos JA The Latest and Greatest New Biomarkers Arch Intern Med 2006; 166: 2428; Colucci WS và csv: Brain and atrial natriuretic peptides in left ventricular dysfunction UpToDate, vers. 15.1, 2007
xem thêm : phải chăng y khoa lâm sàng đang chết dần?

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

VÀI SUY NGHĨ TẢN MẠN VỀ HỘI NGHỊ AFES 2011 TP HCM

Thy Anh


Sau ba ngày tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, 17 - 20 tháng 11, Hội nghị khoa học của Liên hội Nội tiết Đông Nam Á 2011 (AFES - ASEAN Federation of Endocrince Societies) đã kết thúc thật ấn tượng. Chủ đề của hội nghị lần này, "Áp dụng các nghiên cứu về nội tiết học vào điều trị lâm sàng", đã được cập nhật bằng các báo cáo mới nhật của nhiều giáo sư đến từ các trường đại học y khoa danh tiếng trên thế giới và các đại biểu tham dự hội nghị đã được thưởng thức một "bữa tiệc thịnh soạn" các kinh nghiệm và kiến thức của các chuyên gia hàng đầu.
Có thể nói, đây là lần đầu tiên một hội nghị khoa học chuyên ngành mang tầm cỡ "quốc tế thật sự" được tổ chức ở Việt Nam và đã thành công cả về chất lượng lẫn số lượng (khoảng 1350 đại biểu, vượt xa dự đoán của ban tổ chức). Nhiều vị giáo sư nổi tiếng của Hội Nội Tiết Quốc Tế, vốn rất khó mời và hầu như không bao giờ "nói bài" cho các công ty dược, củng nhận lời sang Việt Nam báo cáo lần này, đã làm tăng thêm uy tín của hội nghị rất nhiều.
Hội nghị sử dụng toàn tiếng Anh, có lẽ vì thế, số đại biểu trong nước chỉ chiếm khoảng 300 và số lượng bài báo cáo của bác sĩ trong nước cũng không nhiều. Nghe đâu một số bác sĩ trong nước, khi được tài trợ tham dự AFES 2011 lần này đã từ chối khi biết hội nghị chỉ sử dụng toàn tiếng Anh (!)
Bác sĩ Nguyễn Thy Khuê, chủ tịch Hội Nội Tiết và Đái Tháo Đường
Việt Nam, người đã bỏ rất nhiều công sức trong suốt hai
năm để tổ chức thành công AFES 2011
Hội nghị AFES 2011 tuy được tổ chức trong nước nhưng không hề có chuyện nước chủ nhà tìm cách "ép buộc" các đại biểu tham dự phải nghe một tỷ lệ lớn các bài báo cáo "cây nhà lá vườn" của chủ nhà để "phát huy tinh thần dân tộc" hay để "phô trương lực lượng" như trong vô số các hội nghị khoa học mang danh nghĩa quốc tế khác thường làm từ trước tới nay. Nhưng như vậy, theo tôi, lại hóa hay và có lẽ chính vì điều này mà Hội Nội tiết và Đái Tháo Đường Việt Nam, đơn vị tổ chức AFES 2011, đã được Hội Nội Tiết Quốc Tế gửi thư khen ngợi không hết lời. Bác sĩ Nguyễn Thy Khuê, chủ tịch Hội Nội tiết và Đái Tháo Đường Việt Nam và cũng là người đã bỏ rất nhiều công sức trong suốt hai năm để chuẩn bị tổ chức hội nghị, đã nhận định thẳng thắn: ”khi muốn tổ chức hội nghị cho các đồng nghiệp trên thế giới cùng nhau giao lưu, học hỏi, ta phải làm thật chất lượng và minh bạch, sao cho mọi người được thưởng thức những gì có giá trị thật sự, có như thế, các đại biểu quốc tế mới muốn đến tham dự và kính trọng chủ nhà”. Những người làm khoa học chân chính khác với các chính trị gia, bao giờ họ cũng biết phải tôn trọng chất lượng hơn số lượng.
Hội nghị AFES 2011 cũng chính là một dịp cho chúng ta nhìn lại thực lực của ngành y tế trong nước mà có chiến lược định hướng đào tạo cho tương lai. Y khoa cũng như các ngành khoa học khác, đòi hỏi các bác sĩ phải có khả năng theo kịp tiến bộ của thế giới và phải làm được những công trình nghiên cứu ngang tầm quốc tế để được thế giới công nhận,  chứ không phải chỉ tìm cách "cập nhật bằng cấp" với  các báo cáo kiễu "con hát mẹ khen hay" mà chẳng cần biết chất lượng ra sao.
Một vấn đề nhỏ đáng suy nghĩ nữa mà có lẽ những người có trách nhiệm đào tạo cũng đã biết nhưng vẫn chưa làm cho rốt ráo là, muốn tiếp cận các thông tin quốc tế ngày nay, sinh viên các ngành khoa học nói chung và y khoa nói riêng phải có được trình độ giao tiếp tiếng Anh tương đối tốt, vì các thông tin chuyên môn có giá trị đều trình bày bằng tiếng Anh và ngôn ngữ sử dụng chính trong các hội nghị quốc tế cũng luôn là tiếng Anh. Nên chăng cần thêm môn tiếng Anh vào kỳ thi tuyển sinh Đại Học và xem tiêu chuẩn giao tiếp lưu loát tiếng Anh như là một tiêu chí cho kỳ thi tốt nghiệp Đại Học?
từ trái sang phải: Bác Sĩ Nguyễn Thy Khuê, một đại biểu, Bác Sĩ Trần
Quangkhánh (Bộ Môn Nội Tiết ĐHYD tp HCM) và giáo sư David Cooper
(đại học John Hopkin, giám đốc Bệnh Viện Tuyến Giáp John Hopkin)
Mới đây, tôi tình cờ đọc được một bài viết của giáo sư Phạm Duy Hiển đăng trên Tuổi Trẻ cuối tuần cũng đề cập đến vấn đề tương tự về khoa học nước nhà mà tôi thấy rất tâm đắc:
“ . . . Nhưng nhìn các vận động viên Việt Nam hiên ngang tranh tài với đồng nghiệp các nước, ta không khỏi chạnh lòng nghĩ đến hiện trạng khoa học và đại học nước nhà. Cùng là người Việt Nam, sao giới khoa học lại khác các vận động viên trẻ tuổi, chỉ quanh quẩn với nhau ở sân nhà, chơi theo cách riêng của mình?
Trong khoa học không có các đấu trường để phân biệt vô địch với á quân, để xếp thứ hạng các hạt giống, nhưng lại có các diễn đàn quốc tế. Ở đó nhà khoa học trưng bày các kết quả nghiên cứu của mình và tranh luận với đồng nghiệp để tìm ra chân lý. Đó là các hội thảo khoa học chuyên sâu và ngót một vạn tạp chí uy tín thuộc hàng trăm chuyên ngành khác nhau từ khoa học tự nhiên, công nghệ đến xã hội và nghệ thuật, nhân văn.
Không một lĩnh vực nghiên cứu sáng tạo nào lại thiếu các tạp chí học thuật đỉnh cao. Không một nhà nghiên cứu nào trên thế giới lại thiếu niềm khao khát có tên mình trong đó. Chúng lại được xếp hạng theo những tiêu chí minh bạch, dựa theo đó nhà khoa học có thể lượng định xem mình nên có mặt ở đâu thì vừa sức, biết những công trình của mình có giá trị đến đâu dưới con mắt các đồng nghiệp năm châu. Lọt vào đây chính là cách để lấy được dấu chất lượng nghiên cứu khoa học chính xác nhất . . .
Tiếc rằng mãi đến gần đây chúng ta mới chỉ nhìn nhận công bố quốc tế là tiêu chí để đánh giá chất lượng các nghiên cứu cơ bản vốn chiếm chưa đầy 5% về nhân lực và kinh phí hoạt động khoa học công nghệ cả nước. Đối với đại bộ phận còn lại, công bố quốc tế chưa được nhìn nhận như tiêu chí bảo đảm chất lượng. Mấy năm trước, Bộ Giáo dục - đào tạo có “dọa” bắt buộc tất cả luận án tiến sĩ phải kèm theo công bố quốc tế, nhưng bị phản đối mạnh nên việc này đã chìm trong quên lãng để lại nỗi thất vọng cho giới khoa học.   
từ phài sang trái: Bác Sĩ Nguyễn Thy Khuê, Bác Sĩ
Ashley Grossman (UKINETS - ENETS) và con gái
Người ta viện nhiều lý do để khước từ công bố quốc tế. Đâu đó có tiếng xì xầm “công bố quốc tế chỉ là chuyện của mấy vị nghiên cứu cơ bản (ý nói chẳng làm ra đồng tiền hạt gạo nào cho đất nước), chúng ta nghiên cứu ứng dụng việc gì phải phí thì giờ vô ích”! Vậy là ta cứ chơi theo kiểu của mình, có hội đồng đông người do bộ phận quản lý ngân sách dựng nên để phán xét chất lượng.
Gỡ bỏ chuẩn mực quốc tế trong khi bầu sữa ngân sách ngày càng phình lên chính là nguyên nhân bao nhiêu dự án, đề tài tiền tỉ thi nhau ra đời mà chẳng để lại mấy dấu vết cho khoa học công nghệ nước nhà. Có người làm giàu nhờ cách chơi này. Quan quyền nhấn chìm tinh hoa. Bằng dỏm, tệ nạn bịa kết quả nghiên cứu ngày càng lan tràn, người nghiên cứu nghiêm túc không có chỗ đứng. Thế hệ trẻ ngày càng xa lánh khoa học cũng dễ hiểu lắm!
Xin được nhắc lại một lần nữa nguyện vọng đã được nhiều người khẩn thiết nói ra nhiều lần. Đất nước ngót một trăm triệu dân này rất cần và có đủ điều kiện xây dựng một nền khoa học có vị thế trên thế giới. Thiếu nó, chúng ta sẽ không có giáo dục, văn hóa và dân trí, sẽ không định ra quyết sách đúng đắn để phát triển, sẽ không có công nghệ để sống còn trong cuộc cạnh tranh toàn cầu gay gắt này“ (Xem SEA Games, nghĩ về khoa học nước nhà - TTCT 27-11-2011)
Việc tổ chức thành công một hội nghị chuyên ngành nội tiết lớn nhất khu vực này đã đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh và khẳng định vai trò của Hội Nội tiết và Đái Tháo Đường Việt Nam hội nhập với các nước trong khu vực.
Thật phấn khởi khi tham dự hội nghị AFES 2011, tôi đã được gập rất nhiều bác sĩ đàn em và các học trò cũ cuả trường Đại Học Y Dược tp HCM đầy tự tin trước các chuyên gia quốc tế. Thật vui khi những người làm khoa học tâm huyết như bác sĩ Nguyễn Thy Khuê cùng thế hệ các bác sĩ trẻ tuổi ấy đã làm được những điều mà nhiều người đi trước chưa làm được hoặc không muốn làm, để nâng cao tầm khoa học nước nhà ngang bằng với chuẩn mực trên thế giới
Mời xem CORRUPTION CARTOONS