Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

TRƯỜNG HỢP CỦA PURNIMA EKANAYAKE

Ngôi đền Kelaniya

Jim B. Tucker*: " ... Tôi không cố thuyết phục các bạn rằng những câu chuyện này chứng tỏ hiện tượng đầu thai là có thật  hay tuyên truyền cho một giả thuyết nào đó. Tôi chỉ đưa ra các trường hợp để các bạn có thể xem xét chúng và tự rút ra kết luận cho riêng mình. Các bạn không nên vội vã kết luận rằng các trường hợp đó là vớ vẩn hay là những bằng chứng chắc chắn cho thấy có sự đầu thai ..."

Purnima Ekanayake - một cô bé ở Srilanka - được sinh ra với một nhóm các vết bớt nhạt màu ở bên trái ngực và sườn dưới của em. Cô bé bắt đầu kể về kiếp trước của mình khi được khoảng hai tuổi rưỡi - ba tuổi, nhưng lúc đầu, bố mẹ cô bé không để ý lắm đến những lời nói của em. Khi cô bé được bốn tuổi, có lần em xem một chương trình truyền hình về ngôi đền Kelaniya - một ngôi đền nổi tiếng cách nhà 232km và nói em nhận ra nó. Một thời gian sau, bố cô bé, hiệu trưởng của một trường học và mẹ em - một cô giáo - đã đưa một nhóm học sinh đến ngôi đền Kelaniya. Purnima cũng đi thăm đền cùng với họ. Trong lúc ở đó, cô bé nói em đã từng sống ở bờ bên kia của con sông chảy qua ngôi đền.
Cho đến năm em được sáu tuổi, Purnima đã nói ra khoảng hai mươi câu về cuộc sống kiếp trước của mình, trong đó cô bé miêu tả một người đàn ông làm hương trầm bị chết trong một tai nạn giao thông. Cô bé đã nhắc đến tên của hai nhãn hiệu hương trầm - Ambiga và Geta Pitcha. Bố mẹ em đều chưa từng nghe nói đếnnhững tên này và sau này, khi tiến sĩ Haraldson kiểm tra các cửa hàng trong thị trấn của họ, không có nơi nào bán những loại hương trầm này.
Trong thị trấn của Purnima có một thầy giáo mới đến. Vào những ngày cuối tuần, anh về Kelaniya - nơi vợ mình sống. Bố Purnima kể cho anh nghe về những điều Purnima đã nói và người thầy giáo quyết định thử tìm hiểu xem có ai ở Kelaniya đã chết và trùng hợp với những lời miêu tả của Purnima hay không. Người thầy giáo nói rằng bố Purnima đã đưa những thông tin sau cho anh kiểm chứng:
- Cô bé đã sống ở bên kia của con sông chảy qua ngôi đền Kelaniya.
- Cô bé là người làm ra hai loại hương trầm Ambiga và Pitcha.
- Cô bé đi bán hương trầm bằng xe đạp.
- Cô bé bị chết trong một vụ tai nạn gây ra bởi một chiếc xe rất lớn.
Sau đó, anh đi cùng với người anh rể của mình - một người không tin vào sự đầu thai - đến đó để tìm xem có ai trùng khớp với những thông tin đó hay không. Họ đến ngôi đền Kelaniya và lên một chuyến phà qua sông. Ở đó, họ dò hỏi về những người làm hương trầm và biết được rằng trong vùng có ba hộ gia đình sản xuất hương trầm. Người chủ của một trong số đó gọi các nhãn hiệu của mình là Ambiga và Geta Pitcha. Anh rể và cũng là trợ lý của người đó - Jinadasa Perera - đã chết bởi một chiếc xe buýt khi đang đang đạp xe đưa hương trầm đến chợ hai năm trước khi Purnima được sinh ra.
Không lâu sau đó, gia đình của Purmina đã đến thăm nhà của người chủ đó. Ở đó, Purnima đã nói rất nhiều câu chính xác về những người trong gia đình và nơi sản xuất, gia đình đó đã chấp nhận cô bé là do Jinasada đầu thai. Tiến sĩ Haraldsson bắt đầu điều tra trường hợp này khi Purnima được chín tuổi. Ông đã ghi lại hai mươi câu mà bố mẹ cô bé kể Purnima đã nói ra trước khi hai gia đình gặp mặt. Bên cạnh những câu đã được nhắc đến ở trên, chúng còn bao gồm tên của mẹ và vợ của Jinasada cũng như tên của ngôi trường Jinasada đã từng học. Tiến sĩ Haraldsson  xác nhận rằng trong số đó có 14 câu trùng khớp với cuộc đời của Jinasada. Có ba câu không đúng và không thể kiểm chứng được mức độ chính xác ba câu còn lại.. Ông cũng đã lấy được biên bản khám nghiệm tử thi của Jinasada, trong đó có ghi lại những chỗ gẫy ở xương sườn bên trái, một lá lách bị rách và các vết xước chạy dọc từ vai phải xuống vùng bụng dưới bên trái. Những vết thương này tương tự như những vết bớt có trên ngực và sườn của Purnima.
Trường hợp này thách thức những nỗ lực nhằm đưa ra một cách giải thích nhanh chòng và bình thường cho hiện tượng này. Theo những gì đã biết, hai gia đình này sống cách nhau 232km, là những người hoàn toàn xa lạ và Purnima không có cách nào để biết được về cái chết của Jinasada trước khi hai nhà gập nhau. Gỉa thiết do tình cờ rất ít khả năng xảy ra, vì Purnima đã nói ra những chi tiết hết sức cụ thể, bao gồm cả tên của các nhãn hiệu hương trầm. Cũng có thể những người cung cấp thông tin đều nhớ nhầm nhưng mức độ thuyết phục của trường hợp này lại càng được củng cố bởi sự hiện diện của một người trung gian là người thầy giáo - người không có quan hệ gì với cả hai gia đình và đã đi tìm người tiền kiếp trước khi hai bên gập nhau. Vết bớt cũng rất lớn và nổi bật, nó cũng trùng khớp với các vết thương của người kiếp trước.
(Jim B. Tucker MD - Life Before Life: A Scientific Investigation of Children's Memories of Previous Lives - 2005)
Chú thích:* Jim B. Tucker là bác sĩ chuyên khoa nhi - tâm thần, đại học y khoa Virginia, đồng thời là giám đốc bệnh viện Thần Kinh Gia Đình và Trẻ em.

 

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

MÙA CÁ KHO TIÊU

Đào Thị Thanh Tuyền

Ảnh chụp tại Cửa Lò - Đào Thị Thanh Tuyền

 Năm nay nhuần hai tháng bảy âm lịch, chẳng ai biết ông trời sẽ làm cây hai ba tháng mười vào tháng trước hay tháng sau. Ông già, bà cả chặc lưỡi: “Thì ổng cứ mưa lai rai từ hai ba tháng chín đến hai ba tháng mười. Hết mùa mưa, rồi noel, rồi tết. Năm nay ổng hiền gần hết tháng chín mà chưa thấy mưa hung. Đông đi, xuân đến. Thoáng chốc mà…”. Câu nói bỏ lửng, nghe đậm màu hoàng hôn, buồn thiu, buồn thít.
 Mùa mưa, mùa nước lên, mùa lụt … Chợ đủ loại cá đồng. Mùa này đi chợ buộc phải có món gì mặn mặn làm chủ lực cho mâm cơm. Nhìn quanh quất chỉ có món cá kho tiêu là “chắc ăn” nhất!
 Tôi nhớ hồi còn bé, cả một lũ con nít vô tư chẳng biết gì đến nỗi lo lắng, chộn rộn của người lớn trong mùa mưa bão. Trời lụt thích nhất là được nghỉ học, được dầm nước cả ngày, như cóc bỏ dĩa, mới vừa bị la chỗ này, chạy lội nước chỗ khác. Chuẩn bị mùa lụt mẹ tôi nói chỉ sợ gạo, sợ rau chớ không sợ cá. Cá lúng búng đầy chợ, cá tràn ra lề đường, chỗ nào không có nước là thấy người ngồi bán cá. Người đi đường dừng xe lại, đủ loại cá, tôm tha hồ chọn lựa. Cá rô về chiên giòn, cá bống kho tiêu, cá trầu, cá trê kho gừng… Tha hồ mà chế biến.
 “Cá bống kho tiêu, cá thiều nấu ngọt”. Hồi xưa, mỗi lần mua cá bống về, mẹ tôi lại ngâm nga câu đó rồi bắt đầu bình phẩm:”Cá bống kho tiêu thì đúng rồi nhưng sao lại cá thiều nấu ngọt nhỉ ? Cá thiều thì phải nấu chua mới ngon!”. Vừa làm cá mẹ tôi vừa giảng giải: “Cá bống có cả chục loại: cá bống cát, bống thệ, cá bống dừa, cá bống kèo… Mỗi vùng đất, con cá ngon mỗi kiểu và cũng tùy theo đặc trưng tính chất vùng miền mà có những kiểu chế biến khác nhau”. Xong bà kết luận: “Dù là kiểu chế biến gì, cá bống chỉ kho tiêu là ngon nhất!”
 Mùa cá kho tiêu đâu chỉ mỗi cá bống. Cá liệt, cá phèn, cá bè … kho tiêu cũng bá cháy! Hồi xưa không có màu kho cá bán sẵn như bây giờ, cứ mùa lạnh mẹ tôi chuẩn bị thắng sẵn một hũ màu. Đường cát bỏ vào chão thật nóng, mùi kẹo thơm lừng chuyển hóa sang mùi đường cháy len lỏi vào tận bàn học của tôi, cái dạ dày và tuyến nước bọt làm việc liên tục. Bỏ bài toán đang giải dang dở, tôi xuống bếp, ngồi sà cạnh mẹ xem hôm nay mẹ cho ăn món gì. Nồi cá kho tiêu của mẹ tôi đơn giản, chỉ có đường, mắm và tiêu. Theo ý mẹ cá kho tiêu không nên ướp hành, nó sẽ làm mất đi mùi và vị ngon nguyên thủy của cá và… tiêu. Để lửa riêu, cho nước sắc sệt lại, con cá dãnh cong đậm đà, trên mình lấm tấm hạt tiêu. Cảm giác đói cồn cào. Chưa ăn đã biết miếng cá có đủ mùi vị của mùa lạnh, mùa nước lụt.
 Bên nồi cơm nóng, dĩa cá kho tiêu làm tâm điểm, khi thì dĩa rau lang luộc cùng tô nước rau, khi thì bát canh khoai từ. Mẹ tôi không quên chuẩn bị chén nước mắm nguyên chất dằm vài trái ớt xiêm. Loại ớt trái nhỏ xíu mà cay … “hỗn” vô cùng! Ăn một miếng nồng đến tận mang tai! Và miếng cơm, vẽ miếng cá, thêm miếng ớt, xong húp miếng canh. Sao mà ấm bụng!
 Mùa lụt còn có một loại cá nữa cũng “bá cháy” như cá bống nhưng không phải kho tiêu mà là kho lá gừng, đó là cá trắng. Con cá trắng giống như cá rô, nhưng nhỏ hơn và có lớp vảy …. màu trắng. Mẹ tôi kể hồi còn con gái mẹ không biết kho cá trắng, kho giống như bình thường có nghĩa là ướp đường, mắm rồi kho. Con cá kho xong, xương cứng ngắt, vảy lợn cợn và nhạt nhẽo thế nào. Một lần mẹ đến nhà một người quen, thấy bày ra nồi cơm và đĩa cá trắng kho, lũ con oanh tạc một lúc sạch bay dĩa cá, ăn cả vảy, cả xương. Ngạc nhiên mẹ hỏi cách chế biến và về nhà áp dụng ngay bí quyết: cá trắng phải kho nước lạnh. Cá trắng làm sạch (không phải đánh vảy), cho nước lạnh xâm xấp rồi đun. Đến khi thấy được (cá mềm) mới nêm nếm mắm, đường và bỏ màu cùng lá gừng rồi kho tiếp. Ăn ngon như cá hộp!
 Vừa chớm mưa là chợ đầy cá đồng. Có loại cá bống “lòng tong” bé tí xíu mà bà bán cá nói với tôi đó là cá bống nồm (giống như cá cơm nồm). Cá bống nồm đem về chà qua rổ, rửa với muối cho sạch nhớt, sau đó kho tiêu. Tôi chưa thử bao giờ, nhưng loáng một chút thấy rổ cá bán sạch trơn. “Mùa này không ăn cá kho tiêu thì mùa nào mới ăn”. Thấy tôi đứng tần ngần, bà hàng cá nhắc. Ừ nhỉ, mùa này chỉ có cá kho tiêu!

HẠT GIỐNG CỦA HẠNH PHÚC

Thy Anh st

Một người mang nhiều hạnh phúc và niềm vui cho người khác thì bản thân người đó càng được nhiều hạnh phúc.
Khi bạn đối xử thân thiện với tất cả mọi người thì chắc chắn mọi người cũng đáp lại bằng sự thân thiện.
Nếu chúng ta luôn thật lòng hướng thiện, đem hạt giống tri thức gieo khắp nhân gian, những hạt giống ấy sẽ luôn tìm được khoảnh đất thích hợp để sinh trưởng và không ngừng đâm chồi nẩy lộc trong lòng mọi người. Khi thấy những đóa hoa hạnh phúc nở rộ trong lòng mọi người, khi thấy lòng nhân ái như sao mọc giữa nhân gian, bạn sẽ hiểu mọi người đã báo đáp cho bạn như thế nào và càng thấy rõ sức mạnh của tình yêu vĩ đại như thế nào.
Tuy vậy, hành vi thân thiện đôi khi lại được đổi lại bằng sự báo đáp không tốt, một bầu nhiệt huyết nhiều khi chỉ đổi lại bằng một sự lạnh lùng. Nhưng chúng ta đừng để sự lạnh lùng vô cảm của người khác làm mất đi lòng nhiệt tình của chúng ta. Việc hành thiện tích đức đâu phải chỉ vì sự báo đáp sau này?
Gieo hạt trong mùa xuân, thu hoạch trong mùa thu, trồng trọt thế nào sẽ thu hoạch thế đó.
Nhà thơ Romain Rolland thường kể câu chuyện về một cô bé. Những ai quen biết cô bé đều rất yêu mến cô. Có người đã hỏi cô:"Tại sao mọi người lại yêu mến cháu như vậy?". Cô bé trả lời:"Cháu nghĩ chắc là do cháu luôn yêu thương người khác".


Hàng ngày, bạn đều gặp mặt người này người nọ, bạn đã đối xử với họ như thế nào? Bạn chỉ nhìn lướt qua họ? Bạn có tìm hiểu cuộc sống của họ? Chẳng hạn như đối với một người đưa thư, mỗi năm anh ta đã đi mấy ngàn cây số đưa thư cho bạn và cho mọi người, nhưng có khi nào bạn thử hỏi qua xem anh ta sống ở đâu chưa? Hoặc hỏi thăm vợ con anh ấy ra sao? Bạn có hỏi thăm sức khỏe của anh ấy không? Công việc của anh ấy ra sao? Hoặc đứa bé giao hàng cho bạn, người bán báo, người thợ hớt tóc cho bạn ở góc đường? ... Những người này đều là những con người như bạn, đều có những phiền não và các ước mơ, họ cũng khao khát có cơ hội chia sẻ với mọi người. Nhưng bạn có trao cơ hội đó cho họ không?Bạn có biểu lộ sự quan tâm đến cuộc sống của họ không? Bạn không cần phải là một chú chim sơn ca hoặc một nhà cải cách xã hội mới có thể ra tay thay đổi thế giới này. Bắt đầu hôm nay, bạn hãy thực hiện điều này với những người mà bạn gặp.
Điều này sẽ mang đến cho bạn nhiều niềm vui hơn, làm bạn cảm thấy hài lòng hơn. Aristote đã nói:"Vì người khác mà làm điều tốt không phải là trách nhiệm mà là niềm vui, vì điều này sẽ làm cho sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta tăng thêm".

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2012

TRÌNH BỆNH ÁN : Một Trường Hợp Vàng Da Tắc Mật

Bác sĩ Nguyễn văn Đích

ảnh minh họa - MRCP : Choledocholithiasis

Bệnh án : bà L. 61 tuổi có tiền căn cắt túi mật qua da vì sạn túi mật, cắt tử cung vì u xơ, thoát vị khe (hiatus hernia) vẫn uống thuốc chống bơm proton.
Vào lúc 1 giờ sáng ngày 28 tháng 12, trong lúc đang làm ca đêm bị đau vùng thượng vị, lan ra sau lưng, đau liên tục, khá nhiều, khiến bà phải bỏ việc về nhà. Bà nôn một lần ra chất lỏng, không có máu, đi cầu phân vàng.
Bà đến cấp cứu, được thử máu, chụp phim bụng không sửa sọan và CT, cho biết kết quả bình thường, chẩn đoán viêm bao tử, cho về để uống thuốc chống bơm proton và thuốc chống đau hydrocodone. Cơn đau chỉ giảm sau khi uống hydrocodone nhưng lại tái phát.
Bà trở lại cấp cứu ngày 29 và được nhập viện. Bệnh nhân tỉnh táo, vàng da nhẹ, sinh hiệu ổn định, nhiệt độ 36.7 C, đau khi ấn vùng thượng vị.
Xét nghiệm: Bạch cầu 4.500/microlit đa nhân trung tính bình thường, huyết sắc tố 12.4 g/dl, tiểu cầu 174 ngàn/microlit, trong huyết thanh: Na 134mEq/L, K 3.4 mEq/L, Cl 101 mEq/L, bicarbonate 25 mEq/L, BUN 4 mg/dL creatinine 0.6 /dL, glucose 125 mEq/dL, AST 163 IU/L, ALT 228 IU/dL, phosphatase alkaline 160 IU/L, bilirubine 4.4 mg/dl, amylase 110 IU/L, Lipase 24 IU/L, phân tích nước tiểu bình thường; CT bụng cho thấy tình trạng sau cắt túi mật, ống mật chủ giãn nở, gan nhiễm mỡ, không có dấu hiệu nghẹt ruột.
Chẩn đoán: vàng da tắc mật, viêm đường mật, nghi do sạn ống mật chủ, loại bỏ viêm tụy cấp, cần loại bỏ ung thư tụy, ung thư túi Vater. Bệnh nhân được ăn đồ ăn lỏng, truyền dịch, tiêm TM levaquine 500mg/ngày, morphine 3mg TM mỗi 4-6 giờ nếu cần cho đau, phenergan 25 mg mỗi 4-6 giờ nếu cần cho nôn ói, được chụp ống mật-tụy bằng cộng hưởng từ (magnetic resonance cholangiopancreatography—MRCP).
Bàn luận.-
Trường hợp này cho ta dịp xem lại cách xử trí khi đứng trước một bệnh nhân bị vàng da tắc mật.
- Chẩn đoán.-
Chẩn đoán sạn đường mật dựa vào hỏi bệnh sử tỉ mỉ, thăm khám lâm sàng và xem xét kỹ kết quả cận lâm sàng. Trong trường hợp này bệnh nhân đã được cắt bỏ túi mật nên bác sĩ lâm sàng có thể đã bỏ qua nguyên nhân tắc mật do sạn.Trong thực tế, bệnh nhân đã được cắt túi mật vẫn có thể còn sót lại sạn ống mật chủ hoặc có sạn tái tạo ở ống mật chủ, hoặc có sạn trong ống gan. Sạn ống mật chủ và sạn ống gan thường xảy ra ở Việt nam hơn ở các nước đã phát triển. Cơn đau mà bệnh nhân có thể xác định thời điểm xuất hiện, lan ra sau lưng có thể do viêm tuy hoặc đau bao tử tuy nhiên bệnh nhân đã uống PPI thường ngày nên khả năng viêm loét dạ dày rất ít. Xem lại các xét nghiệm cho thấy khi bệnh nhân đến cấp cứu lần đầu bilirubine đã tăng 4.4mg/dl, phosphatase alkaline 160 mg/dl (bình thường 38-126 IU/L), CT bụng cho thấy ống mật chủ giãn nở. Bệnh nhân có đủ dấu hiệu của tắc mật.
- Viêm đường mật cấp.-
Bệnh nhân bị tắc mật rất dễ bị nhiễm các vi khuẩn từ tá tràng đi lên khiến cho tình trạng trở nên trầm trọng. Những người có sạn ống mật chủ hay bị nhiễm hơn những người có sạn túi mật. Các vi khuẩn thường gặp là Escherichia coli, Klebsiella, Enterobacter và các chủng Enterococcus. Các men gan tăng là dấu của viêm nhiễm gan mật. Bệnh nhân này không bị sốt và bạch cầu không tăng nhưng cần được điều trị kháng sinh sớm. Fluoroquinolones tập trung cao ở mật và một nghiên cứu cho thấy rằng điều trị bằng ciprofloxacin cũng hiệu quả như kết hợp ceftazidime với ampicillin và metronidazole. Có thể chọn một trong các phương pháp sau đây: dùng một kháng sinh đơn thuần như beta lactam/ức chế beta lactamase như ampicillin-sulbactam (3 g mỗi 6 giờ) hoặc piperacillin-tazobactam (3.375 g mỗi 6 giờ) hoặc ticarcillin-clavulanate (3.1 g mỗi 4 giờ) hoặc một carbapenem như imipenem, meropenem, ertapenem; hoăc kết hợp metronidazole (500 mg TM mỗi 8 giờ) với một cephalosporin thế hệ thứ 3 như ceftriaxone (1 g mỗi 24 giờ) hoặc với một fluoroquinolone (ciprofloxacin 400 mg TM mỗi 12 giờ hoặc levofloxacin 500 mg TM mỗi ngày).
- Tìm nguyên nhân gây tắc mật.-
Siêu âm là phương pháp tốt để chẩn đoán sạn túi mật tuy nhiên siêu âm khó phát hiện sạn ống mật chủ nhỏ. MRCP là kỹ thuật mới để khảo sát ống mật chủ, nhất là ở bệnh nhân đã đựơc cắt bỏ túi mật Sau siêu âm có thể chụp ống mật-tụy ngược dòng bằng nội soi (endoscopic retrograde cholangiopancreatography-ERCP) để xác định chẩn đoán và điều trị như lấy sạn, cắy cơ vòng, đạt ống thông. Càng ngày MRCP càng được dùng nhiều hơn để chẩn đoán trong khi ERCP được giới hạn vào điều trị. Ở bệnh nhân này, MRCP một ngày sau nhập viện không thấy sạn và ống mật chủ không giãn nở trong khi đó bệnh nhân hết đau, bilirubin xuống dần từ 4.4 xuống 3.2 rồi 2.4, các men gan giảm dần ALT 126, AST163 , phosphatase alkaline 145, amylase và lipase bình thường. Bệnh nhân được coi là có sạn ống mật chủ nhưng sạn đã qua lọt qua khỏi cơ vòng Oddi. Bệnh nhân được ra viện, tiếp tục uống levaquine 500 mg mỗi ngày cho đủ liệu trình 10 ngày và để an toàn và đầy đủ bệnh nhân được hẹn làm ERCP ngoại trú để khảo sát và điều trị nếu cần sạn ống mật chủ bệnh lý của cơ vòng Oddi và túi Vater.
ERCP là một thủ thuật giúp điều trị một số trường hợp bệnh lý mà không cần phải can thiệp ngoại khoa; ERCP có một số biến chứng nhất định nhưng không nhiều hơn biến chứng do phẫu thuật. Để giảm biến chứng cần có chuyên viên nội soi có kinh nghiệm, có khối lượng bệnh nhân đông, và làm ERCP đúng chỉ định.
Tuy là một thủ thuật phức tạp, ERCP vẫn có thể được làm ngoại trú. Ở Mỹ bệnh nhân không nằm bệnh viện để chờ làm thủ thuật. Nếu ổn định, họ có thể ra viện, hẹn ngày đến làm thủ thuật rồi trở về nhà, do đó bệnh viện không bị ứ đọng, giường bệnh viện được sử dụng một cách hiệu quả, ngành y tế tăng hiệu năng và giảm chi phí"

Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

TẶNG MỘT VẦNG TRĂNG SÁNG

Lâm Thanh Huyền


Có một thiền sư tu trong một ngôi nhà tranh trên núi. Một hôm, nhân một buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vặc, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.
Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy nhà tranh của mình bị kẻ cắp lục lọi. Kẻ cắp tìm không thấy của cải gì, sắp sửa bỏ đi thì gặp thiền sư ở cổng. Thì ra, vì sợ kẻ trộm giật mình, thiền sư từ nãy đến giờ cứ đứng đợi ngoài cổng. Ngài biết chắc chắn kẻ trộm không tìm được bất cứ đồ đạc gì đáng giá, liền cởi chiếc áo ngoài của mình cầm trong tay từ trước.
Kẻ cắp gặp thiền sư, đang kinh ngạc bối rối, thì thiền sư bảo:
- Từ rừng núi xa xôi cậu đến thăm tôi, dù thế nào đi nữa cũng không thể để cậu ra về tay không. Đêm lạnh, cậu hãy mang theo chiếc áo này!
Vừa nói, ngài vừa khoác chiếc áo lên người kẻ cắp. Kẻ cắp lúng túng không biết làm thế nào, cúi đầu chuồn thẳng.
Nhìn theo bóng kẻ cắp đi dưới ánh trăng vằng vặc, rồi mất hút trong rừng núi. Thiền sư không khỏi thương cảm, khẳng khái thốt lên:
- Hỡi con người đáng thương kia, ta chỉ mong được tặng cậu một vầng trăng sáng.
Sau khi tiễn đưa kẻ cắp bằng mắt, thiền sư đi vào ngôi nhà tranh, để mình trần ngồi thiền. Ngài nhìn trăng sáng ngoài cửa sổ rọi vào khoảng không trong nhà. Hôm sau, dưới sự vuốt ve dịu dàng của ánh trăng, từ trong chốn thiền sâu thẳm, ngài mở mắt ra, nhìn thấy chiếc áo ngài khoác lên người kẻ cắp đã được gấp gọn gàng, tử tế, đặt ở cửa. Vô cùng vui sướng, thiền sư lẩm bẩm:
- Cuối cùng, ta cũng đã tặng được cậu ấy một vầng trăng sáng.

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2012

TRƯỜNG HỢP CỦA CHANAI CHOOMALAIWONG


Jim B. Tucker*: " Tôi không cố thuyết phục các bạn rằng những câu chuyện này chứng tỏ hiện tượng đầu thai là có thật  hay tuyên truyền cho một giả thuyết nào đó. Tôi chỉ đưa ra các trường hợp để các bạn có thể xem xét chúng và tự rút ra kết luận cho riêng mình. Các bạn không nên vội vã kết luận rằng các trường hợp đó là vớ vẩn hay là những bằng chứng chắc chắn cho thấy có sự đầu thai ...”

Chanai Choomalaiwong được sinh ra ở miền trung Thái Lan vào năm 1967 với hai vết bớt, một ở sau đầu cậu bé và một ở phía trên mắt trái. Khi cậu bé được sinh ra, gia đình em không cho rằng các vết bớt này có ý nghĩa đặc biệt gì, nhưng khi được ba tuổi, cậu bé bắt đầu kể chuyện về cuộc sống kiếp tr4u7o71c. Cậu bé nói mình từng là một thầy giáo tên Bua Kai và bị bắn chết trên đường đi tới trường. Cậu bé cho biết tên của bố, m5, vợ và hai đứa con trong kiếp trước của mình; em cứ đòi bà mình - người em đang sống cùng - đưa em tới nhà của bố mẹ trước kia của mình ở một vùng có tên là Khao Pra.
Cuối cùng, khi cậu bé vẫn còn trong độ tuổi thứ ba, bà của em đã chiều theo lời em. Bà và Chanai bắt một chuyến xe buýt đến một thị trấn ở gần Khao Pra, cách ngôi làng của họ 24 km. Sau khi hai người họ xuống xe buýt, Chanai dẫn bà mình đến một ngôi nhà mà em nói là nơi bố mẹ mình sống. Ngôi nhà thuộc về một cặp vợ chồng già có một người con trai tên là Bua Kai Lawnak làm nghề giáo viên và đã bị giết năm năm trước  khi Chanai được sinh ra. Hóa ra trước đây bà của Chanai chỉ sống cách đó 5 km. Vì bà có một cửa hàng bán đồ cho rất nhiều người ở vùng xung quanh nên bà có biết qua về Bua Kai và vợ anh ta. Bà chưa từng đến nhà của họ và không hề biết Chanai đang dẫn mình đi đâu. Khi tới đó, Chanai chỉ vào bố mẹ của Bua Kai, lúc đó đang ở nhà với một số người thân khác trong gia đình và nói họ chính là bố mẹ mình. Họ đã bị ấn tượng bởi lời nói và những vết bớt của cậu bé và đã mời cậu trở lại nhà mình một thời gian ngắn sau đó. Khi cậu bé quay lại, họ đã kiểm tra em bằng cách yêu cầu em chỉ ra những thứ của Bua Kai trong số nhiều đồ vật. Và em đã chỉ ra được. Cậu bé nhận ra một trong số những cô con gái của Bua Kai và hỏi thăm một đứa con khác. Gia đình Bua Kai đã chấp nhận rằng Chanai chính là Bua Kai đầu thai và cậu bé đã đến thăm họ một vài lần. Cậu bé khăng khăng yêu cầu các con gái của Bua Kai gọi mình bằng "bố" và nếu họ không chịu thì em sẽ không nói chuyện với họ.
Còn về các vết thương của Bua Kai, không có biên bản khám nghiệm tử thi nào để kiểm tra chúng, nhưng tiến sĩ Stevenson đã nói chuyện với một số người trong gia đình của anh về những vết thương trên người anh và họ nói anh có hai vết thương trên đầu do bị bắn. Vợ anh nhớ rằng vị bác sĩ khám nghiệm tử thi cho Bua Kai đã nói rằng vết thương do đạn bắn vào sau đầu anh vì nó nhỏ hơn nhiều so với vết thương trên trán, là vết thương do đạn xuyên ra. Những vết thương này giống các vết bớt của Chanai: một vết nhỏ hình tròn ở sau đầu và một vết lớn có hình dạng khác thường hơn ở trên trán. Chúng đều không có tóc và bị nhô lên. Không ai chụp hình chúng cho đến khi Chanai được mười một tuổi rưỡi, vì thế rất khó để xác định chính xác vị trí của chúng ngay từ lúc sinh ra. Trong bức ảnh, vết bớt lớn hơn nằm ở vùng phía trên bên trái  trán cậu bé nhưng các nhân chứng đã nói hồi em còn bé, nó nằm thấp hơn.
Tóm lại, trong trường hợp này, một số nhân chứng đã kể rằng một cậu bé với các vết bớt giống các vết thương do đạn bắn vào và ra trên cơ thể một người đàn ông đã chết và đã biết nhiều chi tiết về cuộc đời người đàn ông đó. Cậu bé không thể nào biết được các chi tiết này bằng những cách thông thường và em đã vược được bài kiểm tra của chính gia đình người đàn ông đó.
(Jim B. Tucker MD - Life Before Life: A Scientific Investigation of Children's Memories of Previous Lives - 2005)
chú thích:* Jim B. Tucker là bác sĩ chuyên khoa nhi - tâm thần, đại học y khoa Virginia, đồng thời là giám đốc bệnh viện Thần Kinh Gia Đình và Trẻ em.

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Hạnh phúc trong hiện tại

by Linh H. Vo on Friday, September 3, 2010 at 11:32am(face book)


        Thân tặng một bác sĩ trẻ.

Rất nhiều khi chúng ta cảm thấy bất an vì cứ mãi lo nghĩ đến những chuyện chưa đến. Khi đó chúng ta mất đi những khoảnh khắc yên bình hạnh phúc của hiện tại. Cứ như thế, cuộc sống cứ sai thì và chúng ta cứ mãi bất an.
Sự cống hiến và đóng góp của chúng ta trong công việc sẽ không bao giờ đạt được mức độ tối đa của nó nếu mỗi chúng ta không có một cuộc sống thanh thản và  hạnh phúc.  Chúng ta ngỡ mình đã cống hiến tối đa bằng sự hy sinh và quên đi bản thân mình. Thật sự, khi căng thẳng và bất hạnh chúng ta không thể cống hiến tốt như chúng ta hạnh phúc. Khi đó, chúng ta không thể suy nghĩ chính chắn hơn và đưa ra những quyết định tốt hơn.
Chúng ta ngỡ rằng mình mang lại sự sống cho người khác bằng nghề thầy thuốc của mình. Tôi đã từng nghĩ như thế. Nhưng theo năm tháng, tôi biết rằng chuyện sống chết không nằm trong tay tôi, dù trong tay tôi có tất cả những thiết bị hỗ trợ sự sống hiện đại nhất, thuốc men tốt nhất, những bậc thầy, đồng nghiệp và y tá tận tụy nhất. Những gì chúng ta làm cho bệnh nhân là cung cấp cho họ sự chăm sóc y khoa bằng những kỹ năng và kiến thức y khoa mà chúng ta được huấn luyện và đào tạo. Rồi sau đó chúng ta chờ sự đáp ứng của người bệnh như một “waiting game”. Chính lúc này, tôi hiểu chuyện sống chết không nằm trong tay tôi vì sự đáp ứng điều trị của người bệnh là không thể lường trước được. Các số liệu thống kê có ý nghĩa trên một dân số nhưng chúng ta không thể dùng để kết luận trên từng người bệnh. Thật sự, khi đó sống chết nằm trong tay Chúa của người Công giáo, trong tay Thượng Đế của những tín đồ tôn giáo khác, hoặc ở một nơi nào đó nhưng chắc chắn là ngoài bàn tay của tôi.
Có người nghĩ chết là một sự kết thúc. Điều đó không sai nhưng không đủ. Ở bất kỳ môt dạng tồn tại nào, ngay thời điểm kết thúc một quá trình thì tại đó cũng bất đầu một quá trình khác. Vì vậy, chết cũng là sư tiếp tục một quá trình tồn tại nhưng ở một dạng nào đó mà chúng ta chưa có kinh nghiệm trải qua.
Như vậy, chuyện sống chết không nằm trong tay chúng ta. Chúng ta không có quyền năng để kiểm soát chuyện đó thì cũng không nên quá lo nghĩ về nó. Chúng ta hãy sống một cuộc sống mà ngày nào kết thúc, chúng ta mãn nguyện vì mình đã có một cuộc sống trọn vẹn và sẵn sàng cho một sự bắt đầu mới, như chuyện “sinh trụ dị diệt vô thường” mà ai cũng phải trải qua.
Nhưng đó là chuyện của ngày mai, của giây phút sau những khoảnh khắc hiện tại bình yên này, sau những giờ phút mà tôi chia xẻ với gia đình của tôi tình yêu thương ngọt ngào nhất, những trách nhiệm cao nhất của người chồng, người cha. Chúng ta hãy tận hưởng những ngọt ngào của hiện tại, hãy “an trú trong hiện tại” như một thiền sư đã từng nói. Hãy chia xẻ cho gia đình, bạn bè, người thân của mình những tình cảm đẹp nhất, những cử chỉ thân ái nhất để cùng nhau hưởng thụ những cảm xúc thăng hoa nhất của những người biết trân trọng cuộc sống hiện tại.
Sự luân hồi nếu có thì cũng sẽ xảy ra theo vòng xoắn ốc chứ không phải một vòng tròn. Chúng ta sẽ không còn cơ hội thứ hai để chia xẻ những hạng phúc và tình yêu thương với cuộc sống và người thân yêu của mình. Chúng ta đừng bỏ lỡ cơ hội duy nhất trong cuộc đời để sống , để chia xẻ và yêu thương.