Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM - MỘT BẢO BỐI CỦA SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC


GS. Trần Văn Giàu
Vua Quang Trung
Đánh giặc 10 năm, bây giờ gác súng, thảo luận triết lý của lịch sử ai lại chẳng ham ?, người tham dự đông. Số tham luận nhiều. Chỉ vài bài hơi lạc lõng, còn tất cả đều bảo rằng tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam suốt thời kỳ lịch sử là tư tưởng yêu nước.
Lịch sử Việt Nam dài nhiều nghìn năm, chủ yếu là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc. Cho nên tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam là tư tưởng yêu nước xuyên suốt lịch sử, cổ kim. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước đi đôi với sự hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc. Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu thời đại thịnh suy thì tư tưởng yêu nước có bấy nhiêu hồi tiến lên hay suy thoái rồi quật khởi, lúc nào thực tế cũng chứng minh rằng tư tưởng yêu nước không phải chỉ là một triết lý để nhàm chán, nó là kim chỉ nam cho hành động, là một tiêu chuẩn để nhận định đúng –sai; tốt - xấu; nên – chăng. Vận nước suy hay thịnh, mất hay còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng này là tùy thuộc ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần ấy mà tất cả các thế hệ tổ tiên, ông cha đều có công góp cả xương máu để rèn luyện.
… Ta có thể hiểu tại sao, một ngàn năm hơn bị đè dưới Ngũ Hành Sơn, dân tộc Văn Lang không chết mất, quốc gia Văn Lang lại được khôi phục trên một tầng phát triển cao hơn, tầng Đại Việt; Bài thuốc trường sinh bất tử ấy, bài thuốc cải tử hoàn sinh ấy, xét cho cùng là một hệ thống tư tưởng yêu nước được sơ khỏi hình thành trên đất tổ Hùng Vương, khiến cho lúc còn phải ăn sương, uống tuyết để mà sống, người Việt Nam - người Văn Lang – không bị động chờ hóa kiếp, mà chủ động phát huy các giá trị tinh thần của tổ tiên để lại, cuối cùng tự mình lật đổ Ngũ Hành Sơn. Gương ông Gióng mãi mãi sáng; gương hai bà Trưng mãi mãi sáng. Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng trở về đóng đô ở Cổ Loa thành thiên cổ “Nước đi ra bể lại mưa về nguồn, nước non hội ngộ còn luôn” là vậy.
Có người bảo: Hán mạt, Đường tàn thì các dân tộc bị đô hộ thì gặp cơ may tự tháo cổng, chớ Việt Nam sức mấy tài gì? thời cơ thuận lợi thì đúng là có đấy, nhưng nếu tài thiển, sức mọn thì làm sao tháo cổng? mà dù xông ra được, hùm thiêng vị tất đã có thể tung hoành ở rừng xưa, chủ trại còn đó sẽ có ngày lại bắt. Việt Nam không phải như thế, Sau Hán, Đường là Tống, Nguyên, Minh, Thanh, tất cả các triều đại của ông khổng lồ Bắc quốc đều một, hai hay ba lần ra sức đánh chiếm Việt Nam mà tất cả đều bị thất bại thê thảm, thì đó là “cơ may” hay “cơ rủi” ? Đó chẳng phải là Việt Nam giành lại và giữ được độc lập dân tộc bằng tài sức của chính mình thì nhờ đâu. Nhưng thắc mắc của người đọc sử như thế cũng chưa được giải đáp trọn vẹn; Người ta còn hỏi về sức thì họ hơn, họ đông hơn Việt Nam 10, 15, 20 lần, về tài họ có truyền thống tôn tử, Ngô Khởi, Đức Mạnh ai bì? họ không phải không có lý do để khinh thị Việt Nam nhỏ như “ngón tay”, “cái đấu” thì sao tiến công xâm lược, họ thua luôn? Hay là bên cạnh những cách giải thích thông thường, ta còn có thể tìm nguyên nhân chiến thắng của ta ở lãnh vực tư tưởng, tinh thần đặc biệt cao cả của các tướng sĩ, của binh sĩ nhất là của toàn dân, của mỗi người dân ?.
Trong thời Đại Việt, dân tộc Việt Nam có nhiều người hay chữ, chữ hán và chữ nôm. Trước, trong và sau mỗi lần chiến thắng, đều thấy nảy nở những áng văn hay, sâu, viết trên giấy, khắc trên đá. Tất nhiên tôi vẫn dựa trên các sự kiện lịch sử, song ở đây, tôi chủ yếu dựa vào các áng văn đó để ghi lại những đặc trưng của tư tưởng yêu nước thời Đại Việt, nói cho gọn, đoạn này của bản tham luận nhằm ghi lại mấy đóng góp chính của thời Đại Việt vào chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.
LÝ THƯỜNG KIỆT - “NAM QUỐC SƠN HÀ”
Tư tưởng yêu nước thì thời Văn Lang đã sinh nở. Trong thời Bắc thuộc, tư tưởng yêu nước không bị tàn lụi vì cuộc đô hộ lâu dài, trái lại, tư tưởng yêu nước chẳng những được duy trì, mà lại có cơ hội phát triển với sự phát triển của phong trào dân tộc giải phóng. Nhưng phải đợi đến khi độc lập được khôi phục thì văn học yêu nước mới hình thành, văn học yêu nước bắt đầu với các nhà sư triều (tiền) Lê, và phải đợi đến triều Lý đầu thế kỷ XI mới có những áng văn đem lại những nguyên lý mới làm phong phú thêm chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Nổi tiếng nhất, ảnh hưởng nhất tới trăm đời về sau là bài thơ bốn câu 28 chữ của Lý Thường Kiệt, Phát súng thần trên chuyến tuyến sông Như Nguyệt giữa quân Việt Nam với quân Tống. Từ đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hác, tướng của Triệu Việt Vương Quang Phục, đêm đêm vang lên mỗi bài thơ làm phấn chấn thêm tinh thần đã cao của quân Việt, làm nản chí quân xâm lăng. Sau đó nhiều trận quyết chiến đã buộc 20 vạn quân Tống phải rút về nước. Khiến hai ông Á Thánh Tống Nho phải ngậm ngùi tiếc rẻ sao chỉ còn 30 dặm đường vào Thăng Long, mà  không vào nổi! bài thờ thần trên dòng sông Như Nguyệt chỉ bốn câu mà nói lên hai nguyên lý trọng đại của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.
“Nam quốc sơn hà, nam đế cư
 Tiệt nhiên định phận tại thiên thu” 
 Núi sông nước Nam thì Hoàng đế nước Nam ở. Tức lãnh thổ Việt Nam thì dân tộc Việt Nam làm chủ. Cương giới đã ghi rành trên sách trời, tức là quyền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam không ai tranh chấp được, không ai bôi bỏ được. Hai câu này đồng nội dung ý với câu “Tạo hóa sinh ra con người tự do và bình đẳng” của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: với câu “các dân tộc đều có quyền độc lập tự do” của Tuyên ngôn độc lập Mỹ. Có khác một điều là Tuyên ngôn của Triều Lý Việt Nam xuất hiện trước hai Tuyên ngôn kia đến mấy trăm năm, ở đây, thì “Thiên thu”, ở đó thì “Tạo hóa”, khác gì mấy ?.
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
 Cớ sao lũ giặc dám tới xâm phạm ?, chúng bây hãy chờ xem, thế nào chúng bây cũng chuốc lấy bại vong! Đó là cách của thần nói rằng, bảo rằng ta nhất định thắng, địch nhất định thua.
Bảy tám trăm năm sau, ta còn nghe lời thề quyết tâm ấy khi kháng Pháp, kháng Mỹ. Người sau cách mạng Tháng tám năm 1945 có lý khi cho rằng bài thơ thần trên chuyến tuyến sông Như Nguyệt là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của Việt Nam.
TRẦN HƯNG ĐẠO - HỊCH TƯỚNG SĨ VÀ DI CHÚC
Thiện chiến và tàn bạo của quân Thát Đát, còn góc trời Âu – Á đâu không biết? nay Thát Đát đã diệt tống rồi, vua tôi nhà Tống đã ôm nhau nhảy xuống biển rồi; đế quốc Nguyên Mông đã dựng lên rồi, thì số phận của nước Đại Việt “Nhỏ như cái đấu”, ở sát hà nước Nguyên, giống như quả chuông treo bằng một sợi chỉ, như một trái chín treo trước miệng kẻ háo ăn. Nay quân Nguyên Mông sắp vào Đại Việt  nói là mượn đường vào Đông – Nam Á, thì triều đình nhà Trần tất phải lo đối phó. Đối phó cách nào? Không cách nào khác ngoài cách chính mình: chuẩn bị về quân lực và chuẩn bị về tinh thần, về việc trọng đại mà sau này ta gọi là “Công tác tư tưởng” thì lịch sử ghi lại hai cuộc Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than cốt để cho ý thức “Sát Thát” trở thành ý thức chung của toàn dân, từ vua quan, vương hầu đến tất cả đồng bào ở đồng bằng và miền núi. Đối đầu với một kẻ địch đông nhất và  mạnh nhất thế giới thì “mưu cao, mẹo giỏi” không đủ để chiến thắng, tướng giỏi, binh khỏe không đủ để cứu nước. Nhà Trần huy động các bậc bộ lão để cùng nhau quyết định “đánh!” truyền quyết tâm ấy cho toàn dân. Và trong “công tác tư tưởng” năm 1284 thì bài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo có tầm quan trọng quyết định tới việc rèn luyện một quân đội tuyệt đỉnh anh hùng. Hai cuộc Hội nghị và một bài Hịch đã đem những  nguyên lý gì góp vào chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ?.
1.    Quân địch thiện chiến, tàn bạo và đông đúc nhất trên đời, trước nay chưa từng có, nhưng ta quyết không sợ địch, ta đem sức của toàn quân, toàn dân mà kháng chiến thì chắc chắn sẽ được “Bêu đầu Hốt Tất Liệt ở Cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai”.
Đánh tan tư tưởng sợ địch, phát huy tư tưởng quyết chiến, quyết thắng, trong tình thế này hẳn không phải là chuyện dễ, vì quân Mộng- Thát chưa hề thua ai trên chiến trường Trung – Tây Á, Đông Âu, Trung Âu và cả Đông Á, họ đánh bại tất cả, họ được xem như thiên thần; kỵ binh họ tới lui nhanh như chớp giật, họ đánh mạnh như sấm sét từ Giáo hoàng ở La Mã tới Vua Tống ở Biện Kinh đều tán đởm kinh tâm. chỉ có quân Việt Nam đời Trần mới không sợ. Mà không sợ địch mới có thể quyết chiến quyết thắng được. Lại phải đem hết lực lượng toàn dân nhất trí đánh giặc thì mới cản được, đuổi được giặc Mông Thát.
2. Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo nhận thấy rằng sau cuộc quân ta đánh bại Vân Nam Vương thì trong một thời gian không ngắn, nước ta có hòa bình, nên trong quân ta phát sinh tư tưởng tự mãn; tự mãn sinh ra thờ ơ, thờ ơ sinh ra một cái họa đắm đuối trong một lối sống hưởng lạc. Cho nên làm “công tác tư tưởng”; Trần Hưng Đạo đòi hỏi ở các tướng sĩ:
a) Phải chú tâm bảo vệ danh dự của nước nhà và của chính mình; phải “biết thẹn”, khi nước mình, dân mình bị nhục, khi thấy sứ giả Nguyên tại Thăng long nghênh ngang bắt nạt tể phụ; bọn chúng kiêu căng nhục mạ vô nhân như vậy mà các tướng sĩ thản nhiên không tức giận không căm hờn vì nước bị lăng nhục. Hịch tướng sĩ đã đánh vào cái chai lì và không biết thẹn đó.
b) Không một phút thờ ơ với vận nước, phải tránh cái lối sống hưởng lạc: “Giặc Nguyên Mông tràn vào thì cựa gà không đâm thủng áo giáp, mẹo cờ bạc không thể làm mưu lược nhà binh, chó săn giỏi không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai”.
c) Phải bồi dưỡng tinh thấn thượng võ cho thật cao. “Hãy ra sức huấn luyện binh sĩ tập dượt cung tên khiến cho người người là Bàng Mông nhà nhà là hậu nghệ”. Có như vậy mới “bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết” được.
NGUYỄN TRÃI - ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ _ TÂU VUA LÊ
Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng. Năm 1428 “Đại cáo bình Ngô” ra đời. Đại cáo bình Ngô được viết cho đồng bào Việt Nam, đồng thời cũng cho nhà Minh đọc. Chắc là đối với Thiên triều bài Đại cáo này thấm thía khá sâu.; Sau đó 300 năm mới thấy thiện triều Mãn Thanh trở qua Việt Nam để nhận thêm bài học Đống Đa. Còn người Việt Nam thì từ thủa ấy, ai lớn lên, đi học, mà không thuộc lòng vài đoạn của “thiên cổ hùng  văn” này. Đại cáo bình Ngô đã đem vào kho tàng chủ nghĩa yêu nước những tư tưởng lớn nào ?.
1. Quốc gia dân tộc Việt Nam được khẳng định là một nước Văn Hiến lâu đời, chớ đâu phải một nước man di như các triều đại Bắc Phương kiêu căng xếp loại; Cũng được khẳng định là một dân tộc anh hùng; Từ đời nọ qua đới kia Việt Nam đối đầu với Hán, Đường, Tống, Nguyên “Mỗi bên hùng cứ một phương tuy mạnh yếu nhiều lúc khác nhau mà hào kiệt thời nào cũng có” Nếu không phải “Từ trước vốn xưng nền văn hiến đã lâu”  thì sao có thể chống lại nổi cái tử nạn Hán hóa sao có thể làm cho Việt hóa thắng Hán hóa. Nếu không phải “Hào kiệt đời nào cũng có”, không phải là anh hùng thì sao có thể đánh bại được kẻ xâm lược to lớn hơn mình hàng chục lần, đánh lại họ không phải chỉ một lần mà liên tiếp các lần họ xâm lược, các bại tướng của họ Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã Nhi hay Vương Thông, Mã Anh đều là nhân chứng rõ ràng.
Nguyễn Trãi và Đại cáo bình Ngô nói lên được ý thức tự hào dân tộc- một cơ sở chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước phải làm nảy sinh chủ nghĩa anh hùng thì quốc gia dân tộc mới sống còn danh dự được, nhất là khi đất nước ở một vị trí địa dư chính trị đặc biệt như Việt Nam.
2. Chống xâm lược là việc chính nghĩa; cứu nước, cứu dân là việc đại nghĩa; chính nghĩa thắng phi nghĩa, đại nghĩa thắng cường bạo. Đó là triết lý chính trị của Đại cáo bình Ngô, đó là lòng tin sắt đá của dân tộc Việt Nam.
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo”
 3. Yêu nước là yêu dân, cứu nước là cứu dân. Một tư tưởng lớn của Đại cáo bình Ngô. Trong một lần đánh bại Nam Hán, hai lần đánh bại quân Tống, ba lần đánh bại quân Mông Nguyên, bên phía ta phải huy động sức mạnh của toàn dân, chớ không phải chỉ dùng quân lực, thì mới có thể “Lấy ít địch nhiều”, “Lấy yếu chống mạnh ” được. Trong cuộc kháng Nguyên của nhà Trần thì đã rõ ràng rồi. Nhưng phải đến Đại cáo bình Ngô thì mục đích cứu nước và cứu dân thì mới quyện lại thành một mối, phải đến đây, vai trò cứu nước của nhân dân mới được chính thức tuyên dương xứng đáng
a) Đại cáo bình Ngô là “bản án chủ nghĩa thực dân” thống thiết cụ thể nhất, đầy đủ nhất làm cho những người đương thời mà cả người đời sau sôi sục căm thù quân Minh cường bạo: “Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội, dơ bẩn thay nước Nam Hải không  rửa hết mùi” Lê Lợi khởi nghĩa, cuộc khỏi nghĩa nhằm cứu nước và cứu nước cũng là cứu dân, “cứu nước dân để dạ, chí háo hức muốn về đông”
b) Đặc điểm của Đại cáo bình Ngô là, chiến thắng rồi mà vẫn tuyên dương sức mạnh của nhân dân lao khổ như là sức mạnh đầu tiên xung phong đánh giặc Minh. Lúc khởi nghĩa Lam Sơn còn trong trứng nước “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu” mà nhân dân lao động khổ đã sẵn sàng “dựng gậy làm cờ, tụ họp bốn phương manh lệ”. Manh Lệ là ai? là nô tì ở các điền trang, là quần chúng lao khổ nhất. Không tụ họp được bốn phương manh lệ thì không thể đánh đuổi quân Minh. Ở thời khác, ở nơi khác, các ông chủ nhất là đặng chim bẻ ná, đặng cá quên cơm. Còn ở Việt Nam thời Lam Sơn, khởi nghĩa toàn thắng, khi non sông sạch bóng quân thù rồi thì Đại cáo bình Ngô hãy còn trân trọng ghi công cho quần chúng vô danh, chứ không phải chỉ ghi công cho trời thần, danh tướng. Đại cáo bình Ngô sở dĩ đã đem được cho chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam một tính chất nhân dân vốn đậm nét của toàn cuộc kháng Minh. Người dân lao khổ đi đánh giặc suốt mười năm, tự nhiên mang trên đầu giáo, mũi gươm những nguyện vọng của giai tầng mình. Và những người lãnh đạo kháng chiến đã từng “hòa rượu với nước” cùng uống với nhân dân, cũng tự nguyện không thể làm ngơ với nguyện vọng ấy.
4. Thần vũ không giết, ta thể lòng hiếu sinh. Tư tưởng yêu nước Việt Nam cốt giành độc lập tự do, không cốt trả hận rửa thù bằng cách giết địch nhiều nhất. Ta hiếu sinh, không hiếu sát. Cho nên khi đánh thì quyết chiến, quyết thắng, không sợ tốn xương máu, “Nổi gió to quét sạch lá khô”, nhưng khi “quân giặc các  thành khốn đốn, cởi giáp ra ra hàng; tướng quân giặc cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng” thì “thần vũ chẳng  giết hại, thề lòng trồi ta mở đường hiếu sinh”, “Ta lấy toàn quân làm hơn để nhân dân nghỉ sức”. Bình Định Vương lại còn cấp cho Mã Kỳ 500 chiếc thuyền, cấp cho Vương Thông vài nghìn cỗ ngựa để họ về nước, họ về nước rồi mà còn “Ngực đập, chân run”. Quyết chiến là được độc lập và để có hòa bình; Độc lập, hòa bình mới là mục đích của Việt Nam.
“Càn khôn hết bỉ lại thái,
Nhật nguyệt hết mờ lại tỏ,
Mở thái bình muôn thủa
Rửa sạch mối sỉ nhục ngàn thu”
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không phải là chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi càng không phải là chủ nghĩa chủng tộc.
5. Cho thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán sầu. Thời gian trôi qua, bốn biển thái bình rồi thì những nhà cầm quyền lần lần xa dân, sa vào lối sống hưởng lạc, triều đình lo việc xây dựng cung điện, định lễ nhạc, người Trãi được lệnh chỉ đạo việc định lễ nhạc đó. Dịp này, Người Trãi đệ trình một lời tâu, lời tâu này đời sau xem như một biểu hiện nguyên lý của chủ nghĩa yêu nước thực tế đó là lời cảnh cáo của vua.
“Đời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn” ngày nay định ra lễ nhạc là đúng lúc. Song, không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần phụng chiểu định ra âm nhạc, không dâm không gắng hết tâm lực; song học vấn sơ sài,nông cạn, sợ trong âm thanh luật khó làm được hài hòa. Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân, Khiến trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là cái gốc của nhạc vậy”. Hẳn việc làm cho “Thôn cùng xóm vắng bặt tiếng hờn giận, oán sấu” không chỉ cái gốc của nhạc, mà cũng là cái gốc cho mọi chính sách của nhà nước độc lập để bảo vệ nền độc lập.
Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đến Lam Sơn khởi nghĩa toàn thắng đã mang tính chất nhân dân khá sâu sắc, nhưng chưa có ai, kể cả Nguyễn Trãi đi đến khái niệm “dân giàu nước mạnh”. Phải đợi đến 300 năm nữa khái niệm ấy mới đến tâm trí của người yêu nước. Còn bây giờ đây chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Trãi mới yêu cầu “vua Nghiệu Thuấn dường ấy ta đà phỉ sở Nguyên” và trong lúc các quan đều nói “ăn lộc mang ơn vua” thì Nguyễn Trãi viết “ăn lộc mang ơn kẻ cấy cày”. Nhà nho, dù là nho kháng chiến không ngó thẳng tới trước, chỉ ngó ngoái ra sau. Tuy vậy, các đại văn hào của trường phái yêu nước thân dân do Nguyễn Trãi đứng đầu đã dám nói lên những ước mơ không tưởng mà táo bạo, Nguyễn Mộng Tuần, Lý Tử Tấn, Nguyễn Trực đồng ca ngợi, mong chờ một xã hội “duy tân”.
“Dân ở trong cày yên ổn vui tươi
Vật sinh nơi đó, dong chơi hớn hở
Cày ruộng, đào giếng, mặc ấm, ăn no
Già nua lụm cụm mà không thui, không lụi
Ngày làm đêm nghỉ không biết  nhọc nhằn..”
 Một Lý tưởng xã hội mọc lên với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thắng lợi.
ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN HUỆ
NGƯỜI “ANH HÙNG ÁO VẢI CỜ ĐÀO” CHO HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM
Bia kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi
 Nguyễn Huệ không để lại một bài viết nào, một di chúc nào. Ông chết đột ngột. Nhưng thành tích của người anh hùng “áo vải cờ đào” này là cả một pho sách. Phần đóng góp của Nguyễn Huệ  vào chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có hai trọng điểm, hai nguyên lý lớn là :
1. Thứ nhất là luôn sẵn sáng chiến đấu. Lịch sử chép rằng khi Nguyễn Ánh rước hai vạn quân Xiêm với 300 chiến thuyền của họ thình lình đổ bộ lên Hà Tiên, nhằm Gia Định mà tiến, thì tướng Tây Sơn ở Nam liệu sức không cản nổi, liền phi báo cho Nguyễn Huệ ở Quy Nhơn. Đường Hà Tiên -  Gia Định bằng một phần ba đường Quy Nhơn – Gia Định. Vậy mà khi hai vạn quân Xiêm và tàn quân Nguyễn Ánh mới mò lên tới Tiền Giang, thì bị quân Nguyễn Huệ tiêu diệt ở Rạch Gầm gần toàn bộ trong nửa buổi sáng.
Lấy cớ đưa vua Lê Chiêu Thống về , 250.000 quân Thanh vào Lang Sơn nhằm  Thăng Long mà tiến; Tướng Tây Sơn ở Bắc liệu sức không cản nổi, liền phi báo cho Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Đường Phú Xuân – Thăng Long hơn năm lần xa hơn đường Lạng Sơn – Thăng Long. Vậy khi mà đại quân Thanh vừa hạ trại bên bờ Sông Hồng đang lo vui tết, thì đại quân Nguyễn Huệ đã tới núi Tam Điệp, thong thả ăn tết sớm, rồi trong trận đánh liên tục kéo dài trong năm ngày đêm, toàn bộ 250.000 quân Thanh bị đánh tan tành, chủ tướng Tôn Sĩ Nghị chạy bỏ cả ấn tín !
Có mấy ai, có đời nào sẵn sàng chiến đấu hơn? quyết chiền thắng hơn? cắt nghĩa chiến thắng bằng thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ là đúng mà không đủ. Còn phải tìm nguyên nhân sâu xa hơn nữa với chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam được phát huy cao độ bởi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ít nhiều tính chất chống  vua chúa áp bức.
2. Phần đóng góp của Nguyễn Huệ vào hệ thống tư tưởng yêu nước Việt Nam là ý thức và sự nghiệp thống nhất nước nhà. Vấn đề lớn này ở triều Đinh được đặt ra lần thứ nhất và Đinh Bộ Lĩnh đã giải quyết bằng cách đánh dẹp Thập Nhị sứ quân. Đến thời Lý Trần và Lê sơ không có vấn đề này. Nước Việt Nam khi ấy là Đại Việt vốn là một nước thống nhất.Nhưng từ 1527, Đại việt bị phân liệt, tình trạng phân liệt kéo dài đến gần cuối thế kỷ XVIII, hơn 200 năm. Bắt đầu là phân liệt Bắc Nam triều giữa Lê và Mạc, kế đó là Trịnh – Nguyễn phân tranh. Phân liệt phân, tranh thì yếu. Yếu thì dễ xâm lược. Trong vài trăm năm, Trịnh – Nguyễn đánh nhau tới bảy lần. Mạc, Trịnh, Nguyễn không ai có tư tưởng thống nhất nước, tất cả họ chỉ có ý đồ xâm chiếm lẫn nhau. Cứ như thế thì cái họa bị xâm lăng ắt khó tránh. Nội chiến chỉ chấm dứt khi khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi, lần lượt đánh đổ cả hai chúa Nguyễn, chúa Trịnh, đánh đổ luôn vua Lê;  Trong Nam thì đuổi quân Xiêm, ngoài Bắc thì đánh đuổi quân Thanh; lãnh tụ Tây Sơn đường đường chánh chánh lên ngôi Hoàng Đế, vua Càn Long nhà Thanh dù mới đại bại (hay là vì đại bại) mà phải công nhận Quang Trung là vua nước Việt Nam. Thời gian thống nhất Việt Nam dưới cờ Quang Trung, tiếc thay quá ngắn! Quang Trung băng hà quá sớm, đột ngột, người nối nghiệp bất tài. Đại nghĩa tự nó không đủ  tạo ra đại nghiệp, còn phải có người đại tài. Quang Trung chết sớm, chết tức là một sự kiện ngẫu nhiên. Sau đó  thiếu gì những ngẫu nhiên khác. Các ngẫu nhiên kết lại, nối ra thành cái tất yếu. Đất đã được dọn thì sự thống nhất không thể không đến “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Trong việc lập lại sự thống nhất sau thời gian phân biệt lâu dài thời Lê mạt thì người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ là vĩ nhân đã khởi xướng và bắt đầu thực hiện sự nghiệp ấy.
3. Vậy là từ khi Ngô Quyền tiêu diệt quân Nam Hán đến khi Nguyễn Huệ đánh bại quân Mãn Thanh trong hơn tám thể kỷ, Việt Nam đã đại thắng tám lần. Một nước “nhỏ bằng ngón tay”, “nhỏ như cái đấu” đã liên tiếp đuổi được quân cướp nước. Còn ai có thể nói đó là “cơ may” nữa? Nhưng trừ ra lần diệt quân Nam Hán, tất cả các lần đánh bại Tống, Nguyên, Minh, Thanh xong rồi, Việt Nam đều chiếu theo nguyên lý của chủ nghĩa yêu nước truyền thống là chiến thắng để có hòa bình lâu dài, biết rằng một nước nhỏ ở cạnh một đế quốc phong kiến khổng lồ, nên Việt Nam lần nào cũng phải nhún nhường để cho nước lớn chấm dứt binh đao, lợi cho hai bên mà cũng lợi cho họ, lợi cho tất cả các dân tộc gần xa.

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Ái ngữ và lắng nghe

Langmai

Các cụ ta có câu “ họa tùng khẩu xuất”. Câu nói đó quả không sai. Khi ở gần những người ăn nói dịu dàng, lễ phép ai mà chẳng thấy dễ chịu. Ngược lại, khi phải tiếp xúc với những người thô lỗ, cục cằn, lời nói đầy trách móc, chua chát, đắng cay thì đáng sợ biết mấy. Lời nói nhu hòa có tính chất xây dựng, nó giúp ta dễ dàng thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh, góp phần tạo dựng nền tảng cho sự thành công trong cuộc sống.

Tại tu viện Bát Nhã - Việt Nam, có hơn ba trăm người chung sống với nhau. Chúng tôi đã về từ các miền của tổ quốc. Điều đặc biệt hơn nữa, tại   Làng Mai- nước Pháp, cùng sống chung dưới một mái chùa có tới hai mươi quốc tịch. Thế nhưng chúng tôi sống với nhau rất hòa thuận, thân ái cho dù chúng tôi rất khác nhau về tuổi tác, trình độ, văn hóa, tập khí… Có rất nhiều Phật tử và thiền sinh khi tới chung sống và tu tập với chúng tôi đã nói rằng “ Sống với quý thầy quý sư cô, con chẳng thể nào giận được bơoỉ vì ai cũng ăn nói dịu dàng”. Quả vậy, chúng tôi luôn áp dụng pháp môn “ Ái ngữ và lắng nghe” để hành xử với nhau.
Ái ngữ là những lời nói từ bi, hòa ái, có nghĩa, có tình. Còn lắng nghe là khả năng lắng nghe sâu sắc để có thể hiểu được gốc nguồn từ những điều người kia nói ra.

Khi cần phải nói với nhau chúng tôi đều “ lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Mỗi lần thấy ai làm điều gì chưa đúng chúng tôi vẫn nhắc nhở, nhưng sự nhắc nhở này xuất phát từ tình thương, nhắc với mong muốn giúp người kia tiến bộ chứ không phải vì cảm thấy bực bội khó, chịu mà nói ra. Chúng tôi đã giao ước với nhau rằng, nếu trong tâm đang có sự bực bội thì dứt khoát không nói dù chỉ nửa lời. Bởi vì khi giận, ta thường để cho cái thấy phiến diện chi phối, sai sử khiến ta khó kiểm soát được lời nói của mình và đổ vỡ là điều khó tránh khỏi. Chúng tôi chỉ nói khi nào cảm thấy trong tâm thực sự bình an

Ví dụ như khi ở nhà, nếu bạn thấy em mình rửa bát chưa sạch thì có thể bạn sẽ nói rằng: “Em rửa bẩn quá, em phải rửa lại ngay đi”. Câu nói ấy của bạn sẽ khiến cho người nghe bị dội, bị chạm tự ái và cảm thấy khó chịu. Có thể lúc ấy người ta sẽ làm theo bạn nhưng trong tâm thì không phục và mang nỗi bực dọc ở trong lòng. Và tới khi bạn phạm phải thiếu sót gì thì người ấy nhân cơ hội này bắt lỗi lại bạn. Trong đời sống tu tập, nếu có trường hợp tương tự như vậy xảy ra thì chúng tôi sẽ nói rằng : chị (em) rửa kỹ hơn một chút được không? Và chúng tôi nói bằng tình thương chứ không có sự bực bội nên âm điệu của lời nói rất nhẹ nhàng và người nghe sẽ chấp nhận được một cách dễ dàng.

Một sư cô sống tại Làng Mai kể rằng, khi còn là cư sĩ, có một lần sư cô nấu canh rất mặn. Cả nhà ai cũng chê và không ăn. Duy chỉ có mẹ cô là dùng món canh hết lòng, lại còn khen ngon nữa. Cô nhìn mẹ biết ơn: “Mẹ! Mặn thế mà mẹ vẫn bảo ngon”. Người mẹ nhìn cô con gái dịu dàng: “Miễn là con nấu thì dù có mặn mẹ vẫn thấy ngon”. Đó là một biểu hiện về tình thương của mẹ cô dành cho cô. Nó khiến lòng cô ấm áp và dâng tràn niềm biết ơn vô hạn. Mẹ cô đã khéo léo cảm hoá được cô bằng chính tình thương của mình. Và từ đó mỗi lần nấu ăn cô đều có gắng nấu thật khéo để mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người thương yêu cô. Những người đã nâng đỡ, bao dung và đặt tin tưởng nơi cô

Trong cuộc sống, ai chẳng mắc phải lầm lỗi. Nếu người phạm lỗi, nhận được sự bao dung, cảm thông từ những người xung quanh thì khă năng tiếp nhận và chuyển hoá trong họ diễn ra rất nhanh chóng. Hiểu được như vậy chúng ta không còn trách móc, buộc tội hay đay nghiến. Bởi vì hành xử như vậy chẳng những không mang lại lợi ích gì cho mình và cho người phạm lỗi mà còn tạo thêm nhiều oán giận, khổ đau và chia ly. Chỉ có lời nói bao dung, nhân ái mới chuyển hoá được lỗi lầm của người kia, mang lại không khí hoà thuận giữa ta với những người xung quanh.

Để làm được điều đó chúng ta phải tập cho mình khả năng giữ được sự bình tĩnh. Và thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày là cách giúp chúng ta rèn luyện khả năng ấy. Trong mọi sinh hoạt: làm việc, vui chơi, ... thường xuyên đặt trong chánh niệm sẽ giúp định lực của ta ngày càng hùng hậu. Do đó, khi gặp phải những tình huống bất như ý chúng ta vẫn có thể kiểm soát được lời nói, hành động, tâm ý của mình để tránh gây ra những đổ vỡ đáng tiếc cho chính mình và cho người khác.

Lắng Nghe là một phương pháp luôn đi kèm với Ái Ngữ. Thực tập Ái Ngữ là thực tập Từ, tức là ban tặng niềm vui, thực tập Lắng Nghe sâu là Bi, tức là làm vơi nỗi khổ. Mục đích của việc lắng nghe là giúp người kia có cơ hội nói ra hết những khổ đau trong lòng họ. nếu lắng nghe một cách hết lòng thì dù bạn chưa cần làm gì, nói gì nhưng người kia đã vơi nhẹ đi rất nhiều. Tuy nhiên, khi nghe bạn phải thực sự có mặt với người ấy, chú ý chân thành tới lời nói của người ấy mà đừng nên nghe một cách hời hợt, ậm ờ - chuyện đó còn tệ hơn là không nghe. Khi thực tập lắng nghe có thể ta phải tiếp nhận lời nói chất đầy năng lượng tiêu cực nơi người đối diện  bởi vì người ấy đang mang trong lòng quá nhiều khổ đau, nếu thực tập chưa vững thì ta rất dễ bị những năng lượng ấy khuynh đảo. Vì vậy khi thực tập lắng nghe bạn phải theo dõi hơi thở và luôn tâm niệm rằng người kia đang rất đau khổ, đang có tri giác sai lầm về bạn và những người xung quanh, cho nên bạn lắng nghe đây là để giúp cho người ấy vơi bớt khổ đau trong lòng họ. Nghe như vậy bạn sẽ không cảm thấy bực bội, khó chịu. Đó là phép lạ của từ bi tâm. Nghe chính là đang thực tập hạnh từ bi. Tất nhiên, trong khi lắng nghe bạn thấy người ấy có nhiều hiểu lầm, cố chấp nhưng bạn không nên nóng nảy ngắt lời người ấy, nói rằng người ấy đã sai lầm, vì bạn biết rằng nếu làm như vậy người ấy sẽ tức giận, sẽ khự lại và cả hai sẽ rơi vào một trận cãi vã. Nếu thấy như vậy bạn phải tự nhủ rằng, người kia đang có tri giác sai lầm, chính những tri giác sai lầm này đã làm cho người ấy khổ đau. Bây giờ công việc của mình là lắng nghe với tâm từ bi, rồi từ từ, khi tâm người ấy bình an trở lại mình mới đưa ra những dữ kiện để điều chỉnh nhận thức sai lầm của người ấy.

Cũng có khi người kia vì những tri giác sai lầm mà nói ra những câu nói mất hết tình nghĩa, khiến bạn không thể chịu đựng nổi. Thì khi ấy bạn phải biết rằng sự thực tập của mình chưa đủ vững, cách tốt nhất lúc này là dùng lời nói ái ngữ để xin người kia cho mình tiếp tục lắng nghe vào dịp khác. Con xin phép bố (mẹ, anh, chị, em) hôm nay con không được khoẻ, con muốn đi nghỉ một lúc, ngày mai con sẽ tiếp tục lắng nghe bố ( mẹ, anh, chị, em). Trong thời gian đó bạn phải thực tập nhìn cho sâu sắc để thấy được nỗi khổ đau của người kia, khi thấy rồi thì sẽ thương được, và khẳ năng ngồi lắng nghe sẽ vững vàng hơn. Chỉ cần duy trì được lòng xót thương của mình trong suốt buổi lắng nghe là bạn đã thành công rồi.

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

LỜI KHUYÊN NHỮNG NGƯỜI SỐNG TRONG MỘT CỘNG ĐỒNG

Đức Đạt Lai Lạt Ma


Đời sống cộng đồng, nếu tổ chức dựa vào tự nguyện thì theo tôi, là điều rất tốt. Sống tập thể rất chính đáng vì bản chất loài người là lệ thuộc lẫn nhau, người này với người kia. Sống cộng đồng cũng như sống trong một gia đình rộng lớn, vì cách sống như thế phù hợp với nhu cầu của mỗi người. Ta gia nhập một cộng đồng là vì thấy được phẩm chất nào đó trong tập thể ấy. Mọi người chung sức với nhau, mỗi người hoàn tất công việc hàng ngày của mình đồng thời cũng nhận được thành quả từ sự cố gắng của kẻ khác. Theo tôi, đó là một giải pháp mang tính thực tiễn.
Trong bất cứ một cộng đồng nào cũng luôn có những bất đồng chính kiến. Tôi xem đấy là một thuận lợi. Càng va chạm với nhiều quan điểm khác biệt, ta càng có dịp học hỏi thêm những điều mới lạ và cải thiện được những hiểu biết của chính mình.
Nếu ta cứ chống lại những ai suy nghĩ khác với mình, thì mọi sự sẽ trở nên khó khăn. Đừng cố chấp vào những quan điểm riêng tư mà hãy đối thoại với người khác bằng thái độ cỡi mở. Như thế ta sẽ có dịp so sánh những ý tưởng khác biệt và từ đó sẽ nẩy sinh ra những quan điểm mới.
Bất cứ nơi nào, dù trong gia đình hay trong các cộng đồng khác của xã hội, việc đối thọai với nhau thật quan trọng. Ngay từ buổi thiếu thời, khi xảy ra cãi vã, nên tránh ngay tức khắc các ý nghĩ tiêu cực, đừng tự nhủ đại loại như: "Phải tìm cách loại bỏ tên này mới được". Dù không cư xử đến cái mức tiếp tay cho kẻ ấy, nhưng ít ra cũng hãy lắng nghe xem hắn muốn bày tỏ điều gì. Hãy tập làm quen với cách cư xử như thế. Nơi trường học, trong gia đình, nếu có bùng nổ cãi vã, hãy tái lập ngay việc đối thoại và dựa vào việc trao đổi ngôn từ để cùng nhau suy nghĩ thêm.
Chúng ta thường quen cho rằng khi đã bất đồng chính kiến thì tất nhiên phải có xung đột, và khi đã xung đột thì nhất định sau cùng sẽ có kẻ thua người thắng, hoặc như người ta thường nói, sự xung đột sẽ chấm dứt khi có một niềm kiêu hãnh bị chà đạp. Tránh đừng xem mọi việc dưới khía cạnh như thế. Hãy luôn luôn cố tìm ra một giải pháp thỏa thuận. Cần nhất là phải quan tâm ngay đến quan điểm của người khác và nhất định ta sẽ có đầy đủ khả năng để làm việc ấy.
(Những lời khuyên tâm huyết)

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

CUỘC SỐNG "TRUNG BÌNH" CỦA CHÚNG TA

David Michie


Từ cảnh giới của vô số các con vât, bước lên cảnh giới của 6 tỷ rưỡi con người trên trái đất, những gì chúng ta thấy được , theo Báo Cáo Phát Triển Nhân Sinh của Liên Hiệp Quốc 2002, ít ra cũng thật đáng giật mình. Xin trích một vài ví dụ:
- Có 2,8 tỷ người sống với thu nhập chưa đầy 2 USD một ngày.
- Người giàu, chiếm 1% dân số thế giới, có thu nhập rất cao mội năm, tương đương với tổng thu nhập cộng lại của 57% những người nghèo nhất.
- Theo tốn độ hiện thời, sẽ phải mất hơn 130 năm để giải phóng thế giới khỏi nạn đói.
- Vào cuối năm 2000, gần 22 triệu người chết vì bệnh AIDS, 13 triệu trẻ em mất mẹ hay cả cha lẫn mẹ vì căn bệnh này, và hơn 40 triệu người đang sống với HIV.
- Mỗi ngày có hơn 30.000 trẻ em trên khắp thế giới chết vì những ca7n bệnh có thể ngăn ngừa  được.
- Mỗi năm, có hơn 900.000 người, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, trở thành nạn nhân của bọn buôn người.
- Một con bò sống trong khối Liên Minh Châu Âu 9EU) "kiếm tiền" còn nhiều hơn đa số dân chúng ở Châu Phi, chủ của nó được nhận trợ cấp hàng ngày 2.20 USD, trong khi 75% dân số Châu Phi kiếm được chưa tới 2 USD một ngày.
- 113 triệu trẻ em đến tuổi đi học không được đến trường - 97% trong số đó thuộc các nước đang phát triển.
Đằng sau cái danh sách thống kê lạnh lùng này là nỗi khổ đau vô bờ bến của con người mà phần lớn chúng ta không tưởng tượng nổi. Nhiều người chúng ta sẽ tự xác định mình là thuộc tầng lớp "trung bình" hay có phong cách sống "bậc trung", một điều mà có lẽ chỉ đúng trong xã hội mà chúng ta đang sống. Những gì chúng ta không nhận thấy chính là đa số đồng loại của chúng ta không có khả năng hưởng được những lợi ích của thế giới đã phát triển, những điều mà nhiều người ở đó coi là chuyện đương nhiên. Mức thu nhập "trung bình", những điều chúng ta xem là bình thường, thật ra tuyệt đối bất bình thường. Cho dù dùng bất kỳ tiêu chuẩn đo lường khách quan nào thì hiện hữu "bình thường" của chúng ta cũng đều đang tạo thành một cuộc sống đặc quyền đặc lợi. Sống trung lưu trong một đất nước đã phát triển thật ra có ý nghĩa là đang được sống giữa những con người may mắn  nhất thuộc 10% dân số trên thế giới, được hưởng thụ sự nhàn tản và thịnh vượng thuộc vào loại mà 90% dân số kia chỉ có thể nằm mơ.
Trong bối cảnh như vậy, lòng ước muốn vươn lên từ khối 10% đứng đầu lên khối 8% dân số đứng đầu, bằng cách cố dành cho bằng được một ngôi nhà lớn hơn, xe hơi và khoản đầu tư đồ sộ, có vẻ như một người trúng số độc đắc lý luận lẽ ra anh ta phải được 556 triệu thay vì 554 triệu. Chúng ta đã là những người thắng giải quá đỗi ngoạn mục. Việc ham muốn thêm nữa có vẻ như quá khiếm nhã và vô đạo đức.
(Buddhism for busy people)

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

ĐỪNG TỰ KHINH MÌNH

Giữa đời này ai dám khinh bạn nếu bạn không tự khinh? Và ở giữa đời này không ai có thể làm cho bạn trở thành cao thượng, nếu bạn không tự làm.
Nếu hành động của bạn thiếu tình thương, thiếu công bằng, thiếu trung chính, thiếu chân thật, thiếu tỉnh táo, thì đó là những hành động tự khinh.
Một khi mà bạn đã có hành động tự khinh, thì ai là người có thể trọng bạn và ai là người có khả năng đem lại sự vinh quang cho bạn? Phật chăng? Thượng đế chăng? Nhân vương chăng? Không tất cả. Chỉ có hành động của bạn mới có thẩm quyền đưa bạn đi lên hay đi xuống và khẳng định bạn là gì.
Vậy, bạn không nên tự khinh, bạn phải tử tế với chính bạn trước khi bạn đòi hỏi sự tử tế của bất cứ người nào đối với bạn.
TT Thích Thái Hòa