Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP BÚT. KHI NGƯỜI TA TRẺ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TẠP BÚT. KHI NGƯỜI TA TRẺ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

NGOÀI PHỐ MÙA ĐÔNG

 Nguyễn Thị Ngọc Hoà


Mùa đông này ấm áp hơn, khi tôi cảm nhận được cái ấm áp của tình người...
Sài Gòn hoa lệ, người ta vẫn thường nói như vậy, suốt 2 năm rời xa quê nhà tôi lên Sài Gòn học tập và tôi đã nhận ra điều ấy, vẫn có những nơi tráng lệ hào nhoáng ánh đèn nhưng đâu đó vẫn còn có những mảnh đời trôi nổi, mưu sinh. 
Mùa đông đến gần, đường phố trang hoàng lộng lẫy khoác lên người chiếc áo mới đón giáng sinh, khắp các con đường, cửa hàng nào là cây thông, người tuyết, ánh đèn lung linh cho một Sài Gòn xa hoa tráng lệ. Mùa đông, mùa giáng sinh người ta xuống phố dạo chơi, tôi cũng thế một buổi chiều tôi cùng anh lang thang qua bao con phố ngập ánh đèn, thành phố sao đẹp, sao lung linh thế...
Nhưng đâu phải ai cũng cuộc sống sung túc, yên vui trên cái mảnh đất này, tôi vẫn biết còn biết bao mảnh đời vất vả từng ngày, mùa đông đối với nhiều người sẽ là dịp để vui chơi, để diện những bộ quần áo đẹp dạo phố nhưng biết đâu khi màn đêm buông xuống, khi những ngọn đèn lung linh kia bật sáng thì lúc đó lại mở ra một cuộc sống khác của bao người-người vô gia cư.
Những hoạt động tình nguyện ngày nay không còn xa lạ gì đối với các bạn trẻ, và tôi cũng thế, nhưng lần đầu tiên tôi có cảm giác này, ngồi sau lưng một anh bạn, đi đến các nẻo đường trên thành phố lúc nửa đêm... Sài Gòn vẫn đẹp vẫn lung linh ánh đèn, vẫn khe khẽ cái giá lạnh mùa đông đưa mắt và những góc tối, những mái hiên của những ngôi nhà cao tầng, đó là hình ảnh người vô gia cư đang co ro nằm ngủ, sau một ngày dài vất vả mưu sinh, chiếc áo mỏng manh kia sao thắng nổi cái mùa đông lạnh giá, mái hiên nhà kia sao thắng nổi những cơn mưa bất chợt rơi, và suốt một ngày vất vả mưu sinh trên đường kia có đủ cho họ một bữa ăn tươm tất....
Đúng là Sài Gòn hoa lệ, hoa của người giàu còn lệ của người nghèo!
Khẽ bước nhè nhẹ đến bên, âm thầm đặt gói quà bên cạnh, nhìn chú ấy đang say giấc sau một ngày mệt mỏi, chợt nghĩ đến hôm sau khi tỉnh dậy nhìn thấy gói quà bên cạnh chú sẽ vui như thế nào, rồi lặng lẽ dẫn xe đi cách đó hơn 5m mới dám lên xe chay cũng chỉ vì sợ tiếng xe làm chú thức giấc. Bọn chúng tôi vẫn quan niệm "cách cho hơn của cho" là thế, vì món quà chỉ là chiếc áo ấm và chút bánh, sữa, sẽ chẳng giúp được bao nhiêu nhưng quan trọng vẫn là cách chúng tôi san sẻ món quà đó với mọi người, sẽ đọng lại trong lòng tôi một ngày ý nghĩa, sẽ để lại cho những mảnh đời trôi nổi ấy một niềm khích lệ tinh thần, sẽ là vật chất để họ vượt qua mùa đông lạnh giá.
Bên cạnh đó vẫn còn những người còn thức và tôi nhìn thấy trong ánh mắt ấy cả sự mệt mỏi của một ngày dài vất vả, ngồi bên trò chuyện tôi lắng nghe biết bao nỗi khổ khác nhau, người thì không còn người thân, người thì bị con cái bỏ rơi, người thì xa quê vào Sài Gòn kiếm sống...
Sài Gòn không có mùa đông, nhưng những cơn gió vẫn đủ lạnh da thịt con người, ước gì có những que diêm để tôi biến ước mơ về một cuộc sống sung túc của họ thành sự thật, ước gì thời tiết đừng lạnh để họ có giấc ngủ ngon, ước gì...
Trở về nhà lúc 5h30 sáng, vùi đầu vào chăn ngủ, hình ảnh của những người tôi gặp lại hiện lên, mình đang ấm áp thế này, còn ngoài kia...
19 tuổi lần đầu tiên tôi lang thang trên phố đêm khuya, lần đầu tiên tôi biết được điều kì diệu của sự cảm thông, chia sẻ. Mùa đông này ấm áp hơn, khi tôi cảm nhận được cái ấm áp của tình người.


Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

"Cháu yêu bà lắm!"

 KIM NGÂN


Với bao bộn bề thường trực của cuộc sống, hằng ngày mỗi người đều phải quẩn quanh trong vòng xoáy của công việc và tình cảm.
Nhiều lúc muốn tìm kiếm một nơi bình yên cho tâm hồn được nghỉ ngơi, được thư giãn. Con người ta thường nhớ về những chốn xa xưa, ở nơi đó có những người đã chiếm trọn vẹn trái tim ta. Và nơi tôi muốn tìm về là cái ôm của bà - người luôn sống trong tim tôi.
Sinh ra trong thời đất nước còn đang chiến tranh, cuộc sống của bà từ thời còn trẻ đã vô cùng cơ cực. Bà và ông tôi đến với nhau cũng hoàn toàn do sự sắp đặt của hai bên gia đình. Về làm vợ ông, bà sinh chín người con với độ tuổi không cách nhau là mấy.
Trong khoảng thời gian đó, ông tôi lên đường nhập ngũ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, một mình bà ở nhà nuôi các con ăn học. Cơ cực là vậy nhưng theo lời ba tôi kể lại chưa bao giờ bà than vãn bất cứ điều gì. Cả cuộc đời bà sống vì chồng, vì con đến khi tuổi già bà lại sống vì cháu.
Lúc tôi còn bé bà chiều và cưng tôi lắm, mỗi khi đi chợ về là bà lại có quà cho tôi, tôi thèm ăn gì thì chỉ việc chạy đến làm nũng với bà là bà sẽ làm món đó cho tôi ăn. Có lẽ vì thế mà tôi theo bà nhiều hơn cả ba mẹ tôi. Tối nào tôi cũng ngủ với bà và bà sẽ kể chuyện cổ tích cho tôi nghe, khi đi du lịch ở đâu bà cũng dẫn tôi theo.
Khoảng thời gian đó sao thật chóng vánh. Đến năm tôi 9 tuổi chú Út tôi bị bệnh nặng, thấy bà vừa phải lo cho chú Út vừa phải chăm tôi, ba mẹ tôi thấy công việc cũng ổn định nên mẹ giữ tôi thay cho bà. Khoảng thời gian ấy, tối nào tôi cũng khóc nấc đòi mẹ cho về với bà.
Đến khi chú Út tôi qua đời có lẽ vì “người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh” nên bà ngày càng ít nói hơn, suốt ngày bà chỉ lặng lẽ trong nhà không còn thiết tha ra ngoài nữa, không còn gần gũi với tôi như trước nữa. Lúc ấy, tôi cứ nghĩ là bà đã hết thương tôi.
Những suy nghĩ ấy không tồn tại trong tôi lâu vì khi tôi học lớp 5, ba mẹ tôi vì nhiều lí do đã li dị nhau. Tôi cảm thấy ghét ba mẹ tôi lắm, suốt ngày tôi cứ lầm lầm lì lì né tránh không muốn đến gần ba mẹ nữa. Những lúc ấy bà đã ở bên tôi, an ủi tôi và khuyên tôi phải biết thông cảm cho ba mẹ. Nếu khi ấy không có bà, có lẽ đến bây giờ tôi và ba mẹ sẽ có một khoảng cách rất lớn.
Năm tôi chuẩn bị bước vào lớp 10, tôi đậu vào một trường phổ thông có tiếng tăm trong thành phố, bà tôi vui lắm. Tôi tự hứa với bà sẽ cố học thật tốt để sau này lớn lên đưa bà đi du lịch như khi tôi còn bé bà hay dẫn tôi đi vậy.
Nhưng một ngày kia, khi tôi vừa đi học về mẹ nói với tôi rằng bà tôi bị té phải đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng đến giờ vẫn chưa tỉnh lại. Tôi không dám tin vào những gì mình nghe thấy nữa, rõ ràng là lúc sáng tôi đi học bà vẫn còn khỏe kia mà, tôi vẫn còn nói chuyện với bà nhưng sao giờ lại đang hôn mê trong bệnh viện.
Tôi chạy thật nhanh đến bệnh viện để gặp bà nhưng bà tôi nằm đó mắt nhắm nghiền lại, không còn ánh mắt thân thương bà nhìn tôi hằng ngày nữa. Tôi đứng lặng người rất lâu bên giường bệnh của bà. Bắt đầu từ ngày đó, ngày nào tôi cũng đến bệnh viện thăm bà, tôi chỉ mong muốn một ngày bà tôi sẽ tỉnh lại và nhìn tôi, nói chuyện với tôi.
Nhưng mong muốn đó của tôi không bao giờ trở thành hiện thực được nữa. Một tuần sau bà tôi qua đời, tôi cảm nhận rất rõ một sự mất mát rất lớn, ngồi cạnh bà, tôi đã nắm lấy tay bà mà khóc rất nhiều. Tại sao số phận lại bất công với bà đến như thế, cả đời bà chưa một lần sống vì bản thân mình. Tại sao ngay cả lần cuối cùng cho tôi được nhìn thấy ánh mắt của bà cũng không thể?
Mãi cho đến tận bây giờ hình bóng của bà cứ vẫn luôn theo suốt tôi, nhưng đó không còn là những ám ảnh của mất mát hay đau thương nữa, thay vào đó như một niềm an ủi rằng bà vẫn luôn bên tôi, theo sát mỗi bước đi của tôi, luôn là nơi bình yên nhất cho tôi tìm về.
Nếu như thời gian có quay trở lại thì tôi chỉ xin được nói với bà một câu mà tôi biết mình vẫn chưa có cơ hội nói: “Cháu yêu bà lắm!”...  

http://www.ninhhoatoday.net/

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

THỜI GIAN CHO NHAU

Ann Nguyen


Độ đôi ba tháng thì hai người bạn mới có dịp gặp nhau, cùng ăn trưa và trò chuyện. Những câu chuyện xoay quanh bệnh nhân, bệnh viện, văn phòng, sức khoẻ của cha mẹ, và trời mưa trời gió San Jose. Anh là một bác sĩ gốc người Hồng Kông nhưng lớn lên ở Mỹ từ độ lên 3 tuổi. Với công việc của một bác sĩ chuyên lão khoa, chăm sóc bệnh nhân ở 10 Nursing Facilities, văn phòng riêng, và on-call bệnh viện, anh chưa hề có đến một tuần nghỉ ngơi cho riêng mình. 
Mỗi lần hai người bạn cùng ăn trưa anh phải xin lỗi ngưng câu chuyện để trả lời điện thoại từ những cú tin nhắn qua pager. Chỉ hai giờ đồng hồ cho buổi ăn trưa, anh cũng không có thì giờ cho riêng mình. Buồn!
Hôm qua, hai người bạn lại gặp nhau và cùng ăn trưa. Anh vẫn nhiệt thành như bao nhiêu năm từng là bạn. Lần này anh muốn nghe chuyện Việt Nam, chuyện về những kế hoạch cho chuyến đi thường niên của bạn mình. Câu chuyện đan nhau giữa bệnh tật của người già ở Mỹ và những mảnh đời của trẻ mồ côi ở Việt Nam xen lẫn những cuộc vui ngắn ngủi của người về kẻ ở cho cuộc hội ngộ mỗi năm. Trong câu chuyện, anh nghe lời trách nhẹ nhàng cho cái gọi là "quality time" của một buổi ăn trưa của hai người bạn. Anh chợt nhận ra cái dòng chảy của công việc đã cuốn trôi anh và cuốn trôi chất lượng của những lần gặp gỡ ngắn. Trao điện thoại và pager cho bạn cất vào túi xách tay, hai người bạn quyết định gọi thêm mỗi người một ly sương sa hột lựu vừa thưởng thức vừa bàn với nhau một kế hoạch giảm bớt công việc.
Choàng vai nhau chia tay sau buổi ăn trưa, anh nhận lại điện thoại và pager. Mỗi người bạn nghe trong lòng ấm thêm một chút. Dành cho mình và cho bạn thân chất lượng của thời gian bên nhau là điều không dễ làm trong dòng chảy của công việc nhưng cũng không phải khó thực hiện- chỉ cần một chút quan tâm. 
Cám ơn đời đã cho ta những người bạn thân để sẻ chia.
San Jose, 12/8/12

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

CHUYỆN HÁT CHUYỆN CA

Tony Nguyễn


1. Người ta nói nhiều về vai trò của âm nhạc trong đời sống con người, đặc biệt là dân Việt, một dân tộc yêu ca hát đến nỗi quán karaoke nhiều hơn thư viện hay nhà sách. Hiếm có tiệc tùng nào tăng 2 không phải là hát Karaoke và tăng 3 cũng là hò chèo thuyền mái đẩy trong nhà nghỉ. Trên tivi tràn ngập các cuộc thi âm nhạc và trên không gian ảo lẫn không gian thật, đâu đâu cũng nói về Trần Lập, Hồ Ngọc Hà....với đủ mọi lời bình thể hiện sự quan tâm cao nhất. Ít ai nói về học hành thi cử. Ít ai nói về sản xuất kinh doanh. Hiếm thấy ai trên fb 1000 friends của mình, mà toàn là trí thức mới ghê, nói về sách này hay sách kia, các status update phần lớn là hôm nay ca sĩ này hát hay quá, ca sĩ kia hát dở quá, hôm nay chán quá... Ít ai tự nghĩ ủa sao cũng con người mà dân Hàn Quốc say sưa đọc sách, say sưa nghiên cứu và say sưa làm việc, rồi họ bước chân ra đi với câu giới thiệu tôi là người Hàn Quốc và cả thế giới thán phục, phần lớn các nước đều miễn visa cho họ, muốn đi đâu thì đi. Phần lớn thời gian của thanh niên Việt Nam bây giờ, kể cả trí thức (tạm gọi những người tốt nghiệp đại học là trí thức), gắn liền với việc nhìn vào cái máy laptop hay cái Ipad hay Iphone...


Hằng ngày, họ vẫn say sưa về giọng hát Việt, thần tượng Việt, tài năng Việt mà chủ yếu trong đó chủ yếu là hát hò. Đi tìm tài năng Việt Nam đây sao? Tài năng của cả 1 đất nước là việc nuốt kiếm vào cổ họng hay hát 1 bài nghe giống ca sĩ nước ngoài, càng giống càng tài năng? Họ không quan tâm ngày mai tiền đâu đi chợ, giá cả sẽ tăng thế nào, làm thế nào để tăng thu nhập, ra đường làm thế nào không bị tai nạn giao thông, ăn uống thế nào để không ngộ độc, học hành thế nào để ra trường biết làm việc và kiếm được việc làm. Có ai quan tâm 60,000 cô dâu Việt ở Hàn Quốc và cũng con số tương đương ở Đài Loan? Sao đều là con rồng cháu Tiên mà ngậm ngùi đến thế? Và đến Malaysia hay con phố Geylang ở Singapore, không khó để nghe tiếng mình vang lên giữa khu phố đèn đỏ ấy, đến độ hải quan 2 nước này, cứ phụ nữ Việt Nam sang du lịch thì phải chứng minh có đâu 1 ngàn USD trong túi để tránh đi làm gái. Hàng vạn cu li nói tiếng Việt bán mồ hôi quần quật trên những công trưởng, dưới cống, trèo cây, lau nhà cao tầng....những chỗ nguy hiểm dân bản xứ chê không làm. Một ngày quần quật, đêm về nhớ quay quắt vợ con ở quê nhà hình chữ S. Cả đến khoản nợ mấy ngàn đô vay để thế chấp đi lao động, canh cánh bên lòng.

Và mấy chục triệu còn lại ở quê vẫn đêm đêm hướng lên màn hình, vui vẻ cho những trò lố lăng vô bổ, thích thú với các màn lộ hàng khoe thân rẻ tiền, hay nhắn tin khí thế để làm đầy túi tiền của 1 công ty giải trí nào đó. Mình từng chứng kiến ở miền Tây, một nhà kia có cô con gái đi xuất khẩu lao động hay làm gì đó ở nước ngoài, 2 vợ chồng cứ nằm võng kẽo kẹt chờ đến 4h chiều là sổ đề, đánh theo các công ty xổ số. Cứ mỗi lần kẹt tiền thì "Út, mày viết thư gửi chị Hai nói gửi về ba một ít sửa cái chái, cái hiên..." đủ các lý do để xin tiền. Ai biết những chị Hai bên kia cày chết mẹ luôn, cực khổ hay đau ốm gì cũng không dám nói, nên bên Việt Nam tưởng đi nước ngoài là hái tiền như hái lá ổi, cần là bảo gửi về. Sau một ngày mưu sinh vất vả, đêm về những chị Hai ấy nước mắt cứ tuôn trào vì thương phận mình, rồi nhớ nhà, nhớ quê...nhớ dòng sông lục bình trôi tím ngắt, nhớ mỗi hoàng hôn bìm bịp lẻ bạn kêu tha thiết đến nao lòng....

2. Vai trò của âm nhạc thật là to lớn. Có những đội quân thắng trận như Hồng Quân Liên Xô vì họ biết cổ vũ tinh thần binh sĩ bằng những lời như "trùng trùng quân đi như sóng, lớp lớp đoàn quân kéo về" hay tình yêu cũng nhẹ nhàng và hòa trong tình yêu đất nước "tình đã trao nhau êm đềm, gặp nhau lần nào cũng vội vì chẳng đủ gần mà giận dỗi...". Nhưng cũng có những số phận, những con người của một vùng đất mà cứ phải đeo đẳng cái nghèo cái hèn, cái bất lực và tứ xứ tha phương cầu thực vì trót gảy đàn bầu. Tỷ lệ phá thai của Việt Nam cao nhất nhì thế giới là vì vậy (mới có câu "làm thân con gái chớ nghe đàn bầu"-một sự liên tưởng gượng ép rất nhảm của Tony). Những cô gái đất phương Nam bước chân ngàn dặm ra đi lấy chồng Hàn chồng Đài .....hay làm gái massage bia ôm tận Mộc Châu Sơn La...cũng chỉ vì câu hát " thương những đời như lục bình trôi". Ít có cô gái miền trung nào làm nghề này vì ở miền trung đâu có những bài hát buồn như vậy. Hẻm có cô gái bán bia ôm nào vào phòng sau khi sà vào lòng khách là không chụp micro hát vang trong nước mắt bài "Tội tình" với "sao anh bỏ ra đi, em nào có tội tình gì, sao anh bỏ ra đi, em nào có lỗi lầm chi..?" Còn nếu bạn đi karaoke với 1 bà giáo sư tiến sĩ viện sĩ với các huy chương lấp lánh trên ngực, bạn sẽ nghe "dậy mà đi, dậy mà đi, ai chiến thắng không hề chiến bại", phải chăng họ nghe nhạc hùng hồn như thế nên mới ăn học đến giáo sư viện sĩ tiến sĩ khoa học hàn lâm?

Ca sĩ Lệ Thu, hôm trước phỏng vấn có nói hình như bài hát nổi tiếng đầu tiên nó vận vào người cô. Đó là bài "Nước mắt mùa thu", bài hát mà Phạm Duy sáng tác riêng cho cô, cho nghệ danh của cô với những câu buồn não ruột như "nước mắt mùa thu khóc ai trong chiều, một đời ca sĩ hát trong buồn tênh". Nghe thúi ruột thúi gan. Lúc ở bển, Tony sợ vào quán của người Việt mặc dù thèm đồ ăn ở đó. Vì vào nghe nhạc buồn, nhớ quê. Có cái bài gì, "ở bên này nhớ cha nhớ mẹ, may mà thời gian trôi vun vút, không như Sài Gòn, nếu không tôi đã khóc một dòng sông". Ngồi nghe xong nước mắt cứ chảy dài, trời đông lạnh giá, nước mắt vừa trào ra đã khô cứng trên má, gỡ ra bỏ vô ly cà phê nóng thành cà phê đá (rẻ hơn 1 usd). Công ty nào nghe nhạc sến cả ngày trước sau gì cũng phá sản. Người nào nghe nhạc sến cả ngày thì trước sau gì cũng bị chồng bỏ vợ quánh bầm mắt cho coi. 

Vậy phải làm sao? Làm sao để lên dây cót tinh thần? Kinh tế đang suy thoái, nên nghe nhạc hùng hồn để có tinh thần làm ăn. Đang buôn bán ế? Bạn nên dẹp mấy nhạc rầu rĩ nếu đang nghe. Tony cũng vậy, giờ quyết định hẻm coi cải lương nữa. Coi khóc hoài. Bữa thương con Lan bữa thương thằng Điệp. Bữa tội nghiệp cô Lựu (hổng phải Mai thị Lựu)....Khóc quá nên hết muốn làm ăn gì ra tiền hẻm có lại ngồi khóc tiếp. Chủ nợ tới thấy khóc quá nên ghét, quánh thêm, càng đau đớn nên càng khóc bạo. Lúc rảnh rỗi giải trí, Tony sẽ chuyển qua nhạc hồng quân Liên Xô hay xem Gangnam Style. Nghe là hưng phấn, lao đi gặp khách hàng, cười nói lả lơi, rồi nếu nó không chịu ký hợp đồng thì hưng phấn đập phát chết tươi.

Quyết đi nhổ hết tóc bạc và kéo căng da mặt trong chiều nay ở thẩm mỹ viện. Hay đi làm răng cho nó lóa sáng bên nha khoa bác sĩ Bảy (chỗ Tony hay làm răng). Chiều sẽ đi thể thao, có thể là đi quánh golf hay chơi tạt lon với mấy đứa nhỏ trong chung cư. Tối sẽ đi Metro mua về 1 thùng nước collagen của chị Diệu Hiền trước khi ngủ uống 1 lon cho nó trẻ. Ngày mai, sẽ là 1 Tony đầy năng lượng, phơi phới mười tám đôi mươi, kiêu hãnh bán phân giữa dòng đời xuôi ngược.


http://www.ninhhoatoday.net/

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

C H I Ề U T À N T H U

Đàm Thị Ngọc Lý



Viết cho ông Xã mình
Một đời người thoáng chốc trôi qua nhanh. Từ lúc chúng mình được sinh ra trong cõi người đến lớn khôn rồi già đi. Tháng Tám này thiên hạ nô nức đón Trung Thu cùng lũ nhóc. Bất chợt những kỷ niệm về mùa thu mưa bay lá đổ của chúng ta lại trở về tràn đầy cảm xúc.
Anh ạ. Những ngày tháng hẹn hò từ mùa Trung Thu ở Hợp Tác Xã Tân Lập, và mình cũng đã cùng bạn bè trải qua biết mấy mươi năm bên những chung trà đầm ấm trong ngôi nhà 65, nay là 81 Lê Lợi thân yêu này. Bây giờ ai xui chi tháng 9 chia ly để lòng em luôn thổn thức nhớ anh, vẫn ngoan cố không chấp nhận được niềm đớn đau này… Anh à, em giật mình thảng thốt. Chúng mình đã xa nhau 23 tháng 18 ngày rồi ư? Thời gian lâu như thiên thu. Bất chợt em thở dài thấy mình mất phương hướng. Chỉ còn 14 ngày nữa là ngày mãn tang anh. Những giòng nước mắt đau khổ với em thật quen thuộc. Nước mắt ơi, mi đã cùng ta bầu bạn, là bạn đường dỗ dành ta lúc không có anh bên cạnh. Và em của anh chưa một ngày bớt nhớ thương anh. Mong anh về giọt nắng cũng thêm xa…
Anh à, đã gần ba năm dài mộng dữ, nhung nhớ mãi về anh. Không có anh, tàn phai những ước mơ, đã xa rồi cặp từ “Hạnh Phúc”. Những ngày chúng mình cùng thương yêu, cùng trân trọng nhau nay còn đâu ? Còn đâu nữa những chiều anh em  mình chở nhau đi dạo mát khắp phố phường. Anh bảo rằng : Mong sao những con đường Ninh Hòa sẽ ngày càng mở rộng nhiều hơn nữa để đường về nhà mình thêm dài ra… Anh ạ, giờ mình đâu còn những chiều, những tối mùa thu ngồi ở góc quán café cùng đếm lá vàng trên cây đời xanh thắm với ánh điện lung linh…Chúng mình hai con người già nua của thế kỷ có khác nào đôi tình nhân trẻ trung. Ta bên nhau quên cả gánh thời gian. Nào ai nhớ anh em mình giờ đã là ông Nội - bà Ngoại.
Anh ạ, những ngày không anh thật chán phèo. Anh biết không, đã bao lần những sáng chủ nhật con gái về chở em ngang qua quán phở bò kho của Bà Lành. Mùi thơm của phở càng quyện em vào nỗi nhớ và em đã mơ giữa ban ngày. Anh đang bẻ những miếng bánh mì vàng ươm chấm vào tô bò kho và chúng mình cũng thưởng thức hương vị hấp dẫn của nó. Điều đó cũng làm em “no lòng” không cần ăn sáng nữa đó anh. Em của anh theo ngày tháng đã cố gắng làm chết dần những cảm xúc bản thân, cố ngăn giòng nước mắt để mọi người bớt ái ngại, bởi vì em không muốn ai thương hại. Em không muốn vợ của Cáp Lài gãy gục thế này ư ?  Em luôn nhắc  mình – mãi mãi sống sao xứng đáng  là vợ của Hồ Dạ Thảo. Anh, anh có khen em giỏi không?
Anh đi xa, xa mãi nghìn trùng, biết chăng những cơn mưa cuối thu đang rơi ngoài trời. Nước mưa cũng giống như anh đang tuột khỏi tay em. Chiều lại từng chiều em thường đứng ngóng. Em còn mong ngóng gì đây ? Lòng tự hỏi lòng :  Có phải hoàng hôn tím từng chiều vì em nhớ anh ?
Anh ạ, thêm một mùa thu tháng 9. Trời đầy thu, sắc thu heo héo võ vàng. Đâu còn màu nắng thu vàng mật ong của ngày xưa đâu anh. Nhớ anh, em tìm đọc những trang nhật ký của anh để an ủi mình như có  anhbên cạnh. Chúng mình dường như đang chia lửa về những cảm xúc, có phải anh đang thầm thì dỗ dành em bằng ánh mắt vời vợi của một trời thương yêu và tin cậy “ái thê” ?  Những yêu thương giờ xa ngút tầm tay. Mùng 3 tháng 9 là ngày đau thương tức tưởi. Mất mát to lớn của một kiếp người trong hai ta nào ai muốn ?
Ba năm dài mộng dữ, em của anh không cất nổi tiếng cười dòn tan như ngày xưa bên anh. Tâm hồn em như ngày càng khô, vừa già nua vừa mềm úa. Sống chỉ là một giấc mơ buồn. Đêm ơi, sao dài quá ! Em giết thời gian bằng cách thức thâu đêm cùng với … đêm tàn ! Đời em bất ngờ góa bụa long đong chỉ biết cầu mong nước tam muội dội sạch bụi trần để em sớm được bên anh tu đời, an đạo … Trong khói hương em nhìn thấy anh trong khung kính, lúc nào cũng mỉm cười, còn em lúc nào cũng hanh hao, trái tim đau lắm, cứ nhói lên từng nhịp… Mỗi ngày thắp mấy mươi lần hương là bấy nhiêu đau đớn. Em vô cùng xin lỗi anh. Anh đừng đau lòng buồn em. Cầu xin ơn trên đừng bắt anh không siêu thoát được vì những giòng nước mắt của em.
Anh ạ, hãy để trái tim anh lạnh lùng với trần thế. Sợ anh bị phạt không siêu thoát vì cái tội hay khóc của em !. Em bây giờ luôn cầu nguyện, đọc kinh Lương Hoàng Sám để cầu xin ơn trên cho anh được vào cõi vô ưu. Em nghe bảo là “Hễ ai đọc được 5 quyển là “người thân” ấy của mình sẽ lên tiên cảnh”. Em tràn trề hy vọng vì em đã tụng cầu nguyện cho anh được 10 tập. Mãn tang rồi chắc chắn anh sẽ bay lên thiên đường rồi đó anh.
Không biết ở một nơi nào đó, từ cõi u minh mịt mù, nơi cung trời Đao Lợi huyền nhiệm, hay nơi cõi cung tiên, nơi địa ngục lầm đường thần trí mênh mang anh rủi ro đi lại ! Anh ở đâu ? Ngày đêm em của anh luôn tụng kinh sám hối cho anh và em cả kiếp xưa và kiếp này. Anh hãy tu để mau siêu thoát anh nhé. Ba năm dài anh biền biệt xa nhà, em đã cố gắng… Sống không có anh khó khăn đến dường nào.
Anh à, hồi còn sống, anh ước sau này có điều kiện anh sẽ ra mắt tập thơ “Những bài thơ tình của Hồ Dạ Thảo”. Nay em đã thực hiện in được tập thơ đúng vào ngày mãn tang anh (3.9.ÂL). Đã vậy, em còn chấp bút tặng thêm cho anh một chùm thơ của em để anh hiểu thương cho nỗi lòng của vợ. Anh hãy chia sẻ gánh nặng nhớ mong giùm em đi. Nhớ anh biết bao, Hồ Dạ Tháo Cáp Lài ơi. Em biết rằng dẫu hai ta có phải xa nhau chân trời góc bể, ngăn cách bởi thiên đàng hay địa ngục – những bất luận ở đâu, trong giòng chảy của thời gian, em vẫn mãi nhớ mong anh.
Thôi anh nhé. Em luôn mong mơ thấy bóng anh về.

Đàm Thị Ngọc Lý
http://www.ninhhoatoday.net/

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

SÀI GÒN Ở LẠI

QUANG  ĐẶNG


Mấy tháng rồi chưa ra phố. Sáng nay định sẽ xuống nhà sách Nguyễn Huệ mua vài cuốn truyện gởi cho người bạn. Đến ngã tư Pasteur- Lê Lợi tôi không tin vào mắt mình: Một rừng lô cốt đang án ngữ khu trung tâm quận 1. Hàng ngày đọc báo vẫn biết nơi đây đang thi công đường hầm Metro đầu tiên của thành phố, biết  thì biết vậy nhưng sao vẫn thấy ngỡ ngàng. Bước vào Thương xá Tax, quang cảnh còn tiêu điều hơn. Những tủ kính trống hoác, những gian hàng vắng người lặng lẽ, bà con tiểu thương thì đang hối hả đóng gói hàng hóa. Ngày mai 25/9/2014 Thương xá sẽ chính thức đóng cửa sau hơn 100 năm hoạt động và một phần diện tích cũng được phục vụ cho việc xây dựng Metro. Vẫn biết đó là sự thay đổi cần thiết nhưng sao vẫn thấy xốn xang, khi một Sài Gòn thân thuộc ngày một mất dần, ngày một lần lượt nối đuôi nhau vào quá khứ.
Đưa tay chụp vội những tấm ảnh cuối cùng của Thương xá Tax. Nhìn lần cuối ánh đèn vàng lộng lẫy một thời nơi tiền sảnh tôi bước chân ra phố. Từ mặt tiền của Tax, góc phố đẹp nhất của Sài Gòn đã biến mất trong rừng lô cốt. Không còn bóng liễu rũ dưới vòng xoay phun nước. Không còn hàng cổ thụ thẳng tắp trước Nhà hát thành phố. Không thể tản bộ thảnh thơi từ Nguyễn Huệ qua Lê Lợi, Đồng Khởi trong một ngày xuống phố nữa rồi. Và từ Tax  tôi cũng mất đi một góc đẹp để hồi tưởng về ngôi nhà có căn gác gỗ nằm trên con hẻm nhỏ sau lưng khách sạn Con tinental, ngôi nhà của Tuyết Anh, người bạn đầu tiên của tôi ở Sài Gòn.
Bốn mươi năm với bao nhiêu người quen biết. Sài Gòn, lục tỉnh, miền Trung, miền Bắc đều có…người thì để lại dấu ấn sâu đậm, người thì lướt qua nhàn nhạt trong đời. Nhưng mọi tình cảm của tôi có với Sài Gòn đều bắt nguồn từ một Sài Gòn rất  cũ, ngày tôi mới tập tễnh làm cư dân của thành phố. Đó có thể là người thầy đầu tiên, người bạn đầu tiên, ngôi trường đầu tiên…và cái thuở ban đầu lưu luyến ấy đã hình thành một Sài Gòn đậm nét trong tôi.
Giã từ một trường trung học ở miền Trung, tôi ghi danh vào trường Văn Học một trong những lò luyện thi lớp 11, 12 nổi tiếng của Sài Gòn bấy giờ. Lần đầu nhìn ngôi trường mấy tầng lầu không một bóng cây xanh, đối diện với bệnh viện Bình Dân tấp nập, xe cộ chạy như mắc cưởi trên đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), tôi thấy nản vô cùng (Thoáng chút tiếc nuối khi nhớ đến ngôi trường đầy bóng phượng vĩ ở miền Trung). Nhưng mọi thứ không bi quan như tôi tưởng, ngôi trường mới ở Sài Gòn đem đến cho tôi nhiều điều thú vị bất ngờ.
Đầu tiên là thầy Hiệu trưởng Trần Bích Lan (nhà thơ Nguyên Sa) phụ trách môn Luận lý học. Trong tâm tưởng của tôi, tác giả của những vần thơ Tuổi mười ba, Paris có gì lạ không em, Tháng sáu trời mưa, Áo lụa Hà Đông… phải là một người dáng cao gầy rất ư là nghệ sĩ. Ngoài đời thầy hơi mập, hay mặc áo chemise trắng ngắn tay bỏ ngoài quần, chân đi dép da, không được đẹp trai cho lắm. Nói chung tôi hơi bị thất vọng vì những ảo tưởng trước đây. Công bằng mà nói giọng của thầy không được hay (thường thì giáo sư người Bắc giọng rất hay) nhưng cách giảng của thầy thì thật tuyệt vời. Luận lý học là môn học mới mẻ và khô khan, không hiểu sao lại trở nên dễ hiểu và vô cùng lôi cuốn qua phương pháp giảng dạy của thầy. Và nhờ thầy, triết học trở thành môn yêu thích của chúng tôi. Một thiếu sót rất lớn nếu không nhắc đến cô hiệu trưởng Trịnh Thúy Nga, nàng thơ của thầy Nguyên Sa. Thỉnh thoảng  tôi hay gặp cô ngoài hành lang  trong bộ áo dài lụa trắng. Không biết đó có phải thứ lụa mà thầy Lan từng ca ngợi : Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát- Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông…
Trường Văn Học cũng là nơi tôi gặp gỡ Tuyết Anh. Đó là mẫu người trẻ điển hình của Sài Gòn: Năng động, văn minh, phóng khoáng. Một trong những điều tôi thích nhất ở Tuyết Anh là tính cởi mở, không hề phân biệt dân tỉnh hay thành phố. Khác với vẻ rụt rè của tôi, cô bạn sinh trưởng ở Sài Gòn này toát ra vẻ tự tin hiếm thấy. Ăn mặc thì hippi, phim gì cũng biết, nhạc gì cũng tường tận nhưng đồng thời cũng học rất giỏi. Chính Tuyết Anh là người đã phả vào tâm hồn tôi những kiến thức đầu tiên về điện ảnh, âm nhạc, văn hóa của Sài Gòn. Trong khi tôi còn mù mờ chưa phân biệt được người nào là Richard Burton, người nào là Rex Harrison trong phim Cleopatra thì Tuyết Anh đã có thể đọc vanh vách tên phim, tên của các ngôi sao ca nhạc, điện ảnh trong và ngoài nước thời bấy giờ. Và thế là mỗi chiều cuối tuần, sau khi gởi xe đạp ở nhà Tuyết Anh, ngôi nhà sau lưng K/S Continental ở công trường Lam Sơn tôi và Tuyết Anh xuống phố. Chỉ cần dạo một vòng qua các rạp Eden, Rex, Lê Lợi là có nhiều phim hay để chọn lựa. Hôm nào không có phim mới, chúng tôi lại vào rạp Vĩnh Lợi (trước nằm cạnh B/V Sài Gòn ), nơi chuyên chiếu thường trực các phim cũ kinh điển rất hay.
Đó là Sài Gòn năm 1973. Một Sài Gòn còn thưa người và thanh lịch. Hàng ngày từ một lưu xá nữ trên đường  Lê Quí Đôn, tôi đi bộ dọc theo đường Ngô Thời nhiệm, băng qua đường Lê Văn Duyệt (CMT8) đi thêm một đoạn nữa là tới trường Văn Học trên đường Phan Thanh Giản. Những vỉa hè sạch rợp bóng cây  đường Lê Quí Đôn, tia nắng sớm rọi trên mái ngói đỏ trường Saint-Exupery ở đường Ngô Thời Nhiệm, tóc nữ sinh bay bay trên những chiếc xe PC…là những hình ảnh không bao giờ tôi quên. Giờ thì lưu xá nữ vẫn còn đó nhưng cũ kỹ, nhếch nhác thế nào. Nhà hàng, quán nhậu, phòng trà thi nhau bung ra từ những biệt thự cổ kính. Thỉnh  thoảng  ghé lại đường Bà Huyện Thanh Quan kêu một ly chè đậu đỏ bánh lọt, vài cuốn bò bía sao không còn thấy ngon như ngày trước, tại khẩu vị thay đổi hay tại mùi hương cũ đã bay đi.
Còn Tuyết Anh trong bức thư mới nhất gởi về từ Canada viết “Sao mình nhớ Q! Nhớ Sài Gòn quá! Phố bây giờ ra sao?” Tôi không biết trả lời như thế nào khi sáng nay đứng trước thương xá Tax, một góc phố để hồi tưởng về bạn cũng không còn.
Trong 3 năm trọ học ở Sài Gòn, tôi đã trải qua rất nhiều địa chỉ. Hồi còn trẻ mỗi lần di chuyển là mỗi lần phiền toái. Xáo trộn việc học, rối tung mọi sinh hoạt. Giờ nghĩ lại thấy việc di chuyển nhiều cũng có cái hay của nó. Đi nhiều, biết nhiều thì thương nhớ cũng nhiều. Ký ức về Sài Gòn của tôi ngày ấy chỉ quanh quẩn  có quận 3, Chợ Lớn, Phú Nhuận và quận 1. Ngày nay tốc độ phát triển những nơi này chậm hơn so với nhiều quận huyện khác, nên vẫn còn nhiều thứ để nhớ khi thỉnh thoảng tạt ngang qua.
Hôm rồi ghé vào quán bò viên trên con hẻm đường Nguyễn Thiện Thuật, thấy một gương mặt quen quen sau chồng tô cao, chợt nhớ ra đó là thằng nhóc con chủ quán trạc tuổi mình ngày trước, giờ có thêm mái tóc và hàm ria lún phún bạc nên nhìn không ra. Hay có lần vô Chợ Lớn, đi ngang ngôi nhà số…đường Đồng Khánh(Trần Hưng Đạo B) bỗng dưng nhớ Tiểu Muội. Nhớ căn gác có cửa sổ nhìn ra một chung cư toàn người Hoa. Suốt ngày nghe trò chuyện, học tập, hát hò, cãi lộn đều bằng tiếng Hoa. Đêm đêm thức khuya học bài nghe âm thanh Hồ Quảng réo rắt từ chiếc casette của bà chủ nhà trọ, có cảm tưởng đang đi lạc vào một khu phố nào đó ở Trung Hoa. Còn Tiểu Muội giờ ở đâu? Có quên cái lồng đèn đã tặng một chiều mưa trên đường Triệu Quang Phục? Rồi chiều muộn nào ở giảng đường A 1 Đại học Văn khoa, mê mẩn nghe giọng Duy Quang vẳng lên từ hội quán bài “Giết người trong mộng”. Trong ký ức về Văn Khoa còn có sự tiếc nuối mất đi cơ hội được học với những người thầy khả kính. Đó là thầy Nguyễn Trọng Văn dạy triết Tây dáng cao như một diễn viên điện ảnh. Cha Thanh Lãng dạy Văn học sử thời Trung đại thường mặc áo bốn túi. Thầy Nguyễn Duy Cần dạy triết Đông ăn mặc rất bình dân …
Và nhớ nhất buổi chiều cuối cùng ở Sài Gòn khi đạp xe từ trường Văn Khoa về Phú Nhuận. Hôm đó mưa rất lớn. Nước ướt nhòe mắt kính không chạy xe được phải tấp vào một vỉa hè. Nhìn đôi ngã đường ray ở Cổng xe lửa số 6 chỉ muốn khóc, khi nhớ đến cánh cổng khóa chặt nhà H Xưa vài giờ trước đó. Sài Gòn- tháng tư lần đầu tôi biết thế nào là chia xa.
Năm năm sau tôi trở lại Sài Gòn. Khác với sự háo hức thời đi học, lần trở lại này mang theo nhiều tan vỡ. Bắt đầu từ con số không, giấc mơ ổn định nơi thành phố đất chật người đông này gần như là điều không tưởng. Nhưng Sài Gòn không phụ ai cả, chỉ cần chịu khó một chút, cố gắng một chút  ai cũng có chỗ cho riêng mình.
Bên cạnh những nổ lực, gắn bó với Sài Gòn đôi khi còn là một cơ duyên. Nhiều hôm chạy xe ngang qua cửa Đông số 11 chợ Bến Thành, tôi cố chạy thật chậm để tìm lại mình của những ngày đầu mới bước chân vào chợ: Lớ ngớ, cả tin, không chút kỹ năng sống. Đó là chợ Bến Thành những năm đầu thập niên 80, lúc xe ngựa Hóc  Môn còn đậu bên đường Phan Bội Châu, lớp tiểu thương trạc tuổi tôi ai nấy tóc đều đen nhánh. Thời gian như cái chớp mắt, không ngờ đời mình đã gắn kết với đời chợ hơn 30 năm. Giờ thì tìm mỏi mắt những người cùng thời ngày ấy. Đôi khi nhớ anh Hai Cà Ri quanh năm hay mặc cái áo thun ba lỗ màu trắng dính bột cà ri vàng, nhớ nụ cười hiền hậu của cụ Tâm bán giò chả cửa Bắc, nhớ Mỹ Kim bán chè hồi mới quen còn đôi quang gánh  trên vai…Hàng hàng, lớp lớp tiểu thương ngày ấy đã bỏ chợ mà đi. Người thì ra nước ngoài, kẻ thì về hưu và cũng có những đám tang đi ngang  chợ chào lần cuối.
Hồi mới có ý định nghỉ bán muốn rời chợ thật mau để nghỉ ngơi. Giờ rảnh rang lại nhớ không sót một sạp nào ở bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Nhớ tiếng í ới của bạn hàng chào nhau sáng sớm, nhớ tiếng kỳ nèo giá cả đủ thứ ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga, Thái, Malaysia… của khách phương xa. Nhớ những ngày cận tết chợ mở cửa suốt đêm bán vui quên cả về… Đôi khi nhớ cũng chỉ để mà nhớ, chứ “ Kẻ Chợ” mà, mua bán lào xào có gì mà nhớ với thương!
Hôm rồi ngồi với một người bạn ở café Văn Thánh. Trời đang mưa tầm tã bỗng  hửng nắng. Người bạn cũng là dân miền Trung nhập cư đắc ý nói: “Thương Sài Gòn chỗ đó, ngay cả thời tiết cũng lạc quan”. Ở một nơi quanh năm không cần cái áo ấm, bão thì chỉ hăm he chứ chưa vào đã quyến rũ người tứ xứ. Đến rồi ở lại rồi thành người Sài Gòn. Cái chất Sài Gòn thấm vào người từ từ lúc nào không hay, đến khi bạn cũ vỗ vai “Ê dân Sài Gòn” mới thấy mình khác trước. Suy nghĩ thoáng hơn. Ăn nói bộc trực hơn và được là chính mình hơn.


Có người hỏi tôi ở Sài Gòn lâu không chán sao? Câu trả lời là gần như không có thì giờ để chán. Cuộc sống nơi đây như một giòng sông cuồn cuộn chảy và lúc nào cũng lao về phía trước. Đã có lúc tiếc nuối khi mất đi một góc phố đẹp, thấy trống vắng khi không còn hàng cổ thụ trên con đường đi lại mỗi ngày, ngẩn ngơ khi Passage Eden bị đập bỏ…Rồi cái mới xuất hiện. Thoạt tiên thấy lạ, lâu dần thấy thích nghi. Như Eden một thời vang bóng đã nhường chỗ cho Vincom sang trọng. Như dòng kênh xanh Nhiêu Lộc- Thị Nghè đã xóa đi quá khứ bùn lầy nước đọng. Như mỗi lần quay lại chợ Bến Thành là mỗi lần ngạc nhiên khi thấy lớp tiểu thương con cháu giỏi dang hơn thế hệ của mình.
Sài Gòn bây giờ rộng lớn và đông hơn nhiều so với trước năm 75. Có lần xuống Gò Vấp tìm địa chỉ nhà một người bạn, tìm hoài chẳng thấy chỉ thấy mình ngơ ngác giữa bốn bề người là người. Đi dạo dọc bờ sông khu Trung Sơn gió mát tưởng đang ở đường Trần Phú Nha Trang. Lang thang ở Phú Mỹ Hưng thì cứ ngỡ đang ở Singapore hay Hàn Quốc. Rồi quận 2, quận 7, quận 9, Tân Phú… có những địa danh chưa một lần bước tới. Bản chất Sài Gòn là thế. Hoài niệm thì vẫn cứ hoài niệm nhưng thay đổi vẫn cứ đổi thay.
Có người quen ở xa về chê Sài Gòn đủ thứ. Chê lần 1, lần 2 thấy đúng, nhưng đến lần thứ 3 thì hơi bị buồn. Làm sao tránh khỏi những tiêu cực khi Sài Gòn như một chỗ trũng thu hút hết mọi cái tốt lẫn cái xấu của cả nước? Nhưng bên cạnh những mảng tối, không ai có thể phủ nhận rằng Sài Gòn chính là vùng đất màu mỡ của cơ hội, có kẻ bỏ đi nhưng cũng lắm người trân quí.
Nếu được chọn lần nữa, tôi vẫn chọn Sài Gòn làm nơi ở lại. Không quá quen thuộc để nhàm chán. Không quá xa lạ để cô đơn. Mọi người cứ thế lướt qua nhau ung dung mà sống. Mỗi buổi sáng tôi vẫn tập thể dục ở công viên 23/9, vẫn thong thả đi bộ hít thở khí trời dưới những vòm cây xanh mát. Vẫn thản nhiên trước không khí ồn ào, xe cộ tấp nập chỉ cách đó vài bước chân của khu phố Tây Phạm Ngũ Lão. Sài Gòn là như vậy đó. Mặc cho ai ngoảnh mặt, mặc cho ai thương nhớ Em ra đi nơi này vẫn thế!* phải không người bạn ngày xưa?

*Nhạc Trịnh Công Sơn

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

C H Ì N H Ơ I !

NGUYỄN HỮU TÀI


1.
Mùa mưa, khi con nước tràn về như thác lũ cũng là lúc chình từ trong hang chui ra, lẩn quẩn bơi trong tối tìm bạn tình phối giống. Chình dài ngoằn, mình nhớt, không mang, chẳng vẩy. Có con sống lâu năm, thân to bằng cây tre, dài cả thước nhìn như con trăn, sợ phát khiếp. Nhưng chình vốn là giống hiền lành, chả cắn hay quấn ai bao giờ. Cùng với ba ba, chình là loài thủy tộc khó tìm ở sông Dinh. May mắn lắm mới bắt được vài con ăn cho biết mùi biết vị. 
Tụi tôi hay gân cổ lên cãi ỏm tỏi, thậm chí nhào vô đánh nhau u đầu sứt trán khi có đứa nào kêu đó là cá chình. Cá sao được mà cá khi không có vây để bơi và mang để thở. Gọi là chình thôi. Lớn lên mới biết mình sai, bởi chình đúng là loài cá sống ở nước ngọt lẫn mặn, dẫu toàn thân không có nổi một cái vây làm thuốc. Ba nói câu chình giống cá trầu, phải thả câu cắm vì nó quen sống trong hang cùng ngõ hẻm, chui núp dưới những đám bùn tận đáy sông sâu. Còn giăng lưới thì chẳng đời nào dính vì nó nhớt nhợt, chui qua một cách dễ dàng.
Mỗi lần bắt được chình, ba không đem bán dù được giá, chỉ để nhà đãi con ăn cho đã. Ít thì nướng, nhiều thì vừa nướng vừa um. Chình phải làm ngay khi sống, chứ để chết chừng vài tiếng là ươn, thịt hết dai, bở rụi như dẻ rách. Muốn cho sạch nhớt, cầm nắm tro, vuốt từ đầu tới đuôi mấy lần mới sạch. Nhớ phải vuốt từ từ, nhè nhẹ, để khỏi làm hư lớp da bóng nhẫy bên ngoài. Da chình là phần ngon nhất bởi lúc nướng xong, nó vừa dai, vừa giòn, nhai một hồi thành ra dẻo.
Chặt chình từng khúc, ướp tiêu hành và nghệ. Chính củ nghệ giã nát sẽ át được mùi tanh của chình. Với lại, chình giống lươn, là loài máu lạnh, nên phải có nghệ nóng để âm dương hòa hợp. Khi hết củ tươi, thay bằng bột nghệ cũng được nhưng nhớ không xài gừng bởi sẽ ra một mùi trớt quớt. Ướp cỡ nửa buổi là vừa, miếng chình vàng tươi, mùi nghệ quẩn quanh làm cả nhà chộn rộn.
Kẹp khúc chình vào vĩ, để lên than, trở đều tay để khỏi cháy da. Mỡ nhễu xuống, cháy xèo xèo, bốc khói làm ai cũng động lòng. Chình chín, gắp ra dĩa, thịt vàng ươm, da cháy lốm đốm, nghệ thơm đến mủi lòng. Rạo rực quá đi. Ăn chình với cơm, thịt dai và béo hơn cả thịt gà. Hết thịt, còn xương, cứ ngậm tới ngậm lui, nhai nhè nhẹ để hút cho hết tủy chứ bỏ đi lại tiếc. 
2.
Um chình cũng gần như um cá trầu, đồ mộc y chang nhưng có thêm khổ qua và cà dĩa. Trước khi um, cũng cắt khúc, ướp gia vị, sau đó tao sơ để chình bớt tanh. Khổ qua non chẻ làm tư, cắt miếng bự. Khế xắt mỏng. Cà dĩa chẻ làm tám. Hành tây bổ dọc. Nấm mèo, bún tàu có đủ kèm rau nêm và bó ngổ. Tất cả đã sẵn sàng.
Bắt chảo tao chình cho chín tới. Bỏ khổ qua, cà dĩa vô trước, bún tàu, nấm mèo kế tiếp, cuối cùng là hành tây để giữ độ giòn. Lấy đũa trộn đều, nêm gia vị vừa miệng là nhắc xuống. Múc ra dĩa, rưới tiêu và hành ngò lên trên. Mỡ chình chảy ra, hòa vô nước ngọt và thơm kinh khủng. Cả nhà ngồi bệt dưới nền, mỗi người mỗi miếng, ăn thiệt chậm để cảm nhận cái béo của chình lẫn vị khế chua, khổ qua đắng và nức lòng của ngổ.
3.
Những năm sau này hầu như không ai câu được chình trên sông Dinh nữa bởi nước đập dâng cao, lấp hết hang ổ của nó. Có dạo, vài người trong xóm hùn tiền, quây một khúc sông để nuôi chình vì giá trị kinh tế và nhu cầu ngoài thị trường quá lớn. Để rồi trắng tay, sạt nghiệp, phải thục nhà, bán đất trả nợ tứ tung. Làm sao chình sống nổi khi dòng nước ngày càng dơ hầy, ô nhiễm. Vả lại, chình là loài thích tự do, chui rúc bùn đất hơn là lâm cảnh cá chậu chim lồng tù túng.
Có lần về quê, chị Hằng mua được con chình gần ba kí. Mừng như bắt được vàng. Cả nhà xúm lại làm sạch, giã nghệ ướp kĩ, giống y bon cách ngày xưa ba đã chỉ. Thế mới hay, chẳng cần sách vở, không vô trường lớp, ba luôn là ông thầy giỏi. Mấy mươi năm sau, lũ con ông vẫn nhớ từng mùi vị, cách ướp miếng chình sao cho ngon, khi nướng nó giòn, nó béo. Hôm ấy cả nhà ăn một bữa đã đời. Còn dư bao nhiêu bỏ tủ đá để tôi mang qua Mỹ. Đúng là món quê vô giá, tốn cả ngàn đô, tìm đỏ con mắt ở xứ người cũng chẳng có mà ăn. Mỗi tuần chỉ dám nướng một miếng, ăn nhín nhín, từ từ, sợ hết rồi thèm hổng có mà ăn.
Không gì đã hơn chiều chớm đông se lạnh, đi làm về, đói quá, nấu nồi cơm, lấy miếng chình cất trong tủ lạnh, đi ra, đi vô, hết quạt tới thổi cho mau rã đá (tại sáng vội quá nên quên). Cuối cùng chờ không nổi mới đem bỏ vô microwave để đá tan cho lẹ. Nướng bằng lò điện không ngon và sợ mỡ chảy hết. Uổng. Thôi thì làm chình áp chảo. Đứng giữa bếp, không thèm mở quạt hút, chẳng đốt nến thơm, bỏ chình vô chảo không dính. Mỡ chảy ra, xèo xèo, khói bốc thơm dậy nhà. Trời ơi, cái mùi đồng, mùi quê, mùi nghệ, mùi tiêu, mùi mắm, mùi muối, mùi làng quê lam lũ, của phù sa trĩu nặng sông Dinh, mùi ba má và ký ức những ngày thơ trẻ bỗng chốc ùa về. Tự nhiên đứng khóc hu hu như hồi mới lớn, hư, bị má nộ coi chừng tao đem bây ra bỏ gốc me, gốc mít cho làm đứa trẻ trôi sông lạc chợ chứ nuôi làm chi cho tốn cơm tốn nghệ, mới bằng trái bắp thai thai mà không biết nghe lời, mai sau lớn lên chắc leo lên đầu tao ngồi quá.
Để rồi lần sau ăn quen, tôi nhờ chị canh mua chình về ướp mang đi tiếp. Tới hải quan Mỹ, bị chặn lại, dù giải thích cỡ nào đi chăng nữa, mấy ảnh vẫn bảo đó là thịt heo, hàng cấm không được mang vô[1]. Đành thở dài, ngậm ngùi nhìn người ta quăng hộp chình vô sọt rác. Thiếu điều khóc hu hu giữa phi trường rộng lớn.
Chình ơi!
http://www.ninhhoatoday.net/


Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

T R Ò N O N B Á N H L Ọ T

NGUYỄN HỮU TÀI


Tặng Mai Khanh và Phượng Vy
Mai Khanh và Phượng Vy, hai cô bạn chuyên Văn trường Lê Quý Đôn, cùng học trong đội tuyển quốc gia Địa Lý của tỉnh Khánh Hòa, bắt xe lửa từ Nha Trang ra Ninh Hòa thăm tôi vào một sáng cuối năm 1999. Học với nhau được vài mươi buổi, chưa thể gọi là thân nhưng ít nhiều cũng có với nhau nhiều kỉ niệm. Xong khóa học, tôi chia tay phố biển với giải Khuyến khích Địa lý quốc gia, về quê tiếp tục dùi mài kinh sử chuẩn bị thi tốt nghiệp và đại học, thắp sáng ước mơ làm anh thầy giáo dạy Văn trường huyện. Nha Trang – Ninh Hòa cách nhau chưa tới ba mươi cây số nhưng ít có dịp gặp gỡ. Với lại hồi đó làm gì có di động di điếc như giờ, giữ liên lạc với nhau qua thư viết tay là chính. Quý hóa biết bao khi hai tiểu thư đổ đường lặn lội ra thăm thằng bạn nghèo ốm nhom ốm nhách. Ba đứa tụm miệng lại, ngồi ôn lại quá trời kỉ niệm những ngày vội vã ôn thi, ra bãi biển múa mỏ với cóc chua, me ngào, bánh tráng chấm mắm ruốc, chia nhau tô bánh canh với ly chè cứu đói năm trăm bạc nhưng bự chần dần. Có điều ăn từ sáng tới chiều, miệng vẫn ngọt ngay nhờ đường hóa học.
Ăn heo hông? Hông. Ăn gà hông? Hông? Ăn vịt hông? Hông. Mà mấy người muốn cũng hổng có mà ăn. Biết vậy nên tụi tui đâu ừ chi cho mệt. Thôi để tui nói má làm món đặc biệt này đãi hai bạn coi thử có ngon hông nhen. Má làm thau bánh lọt to tổ bà chảng mời hai cô gái thị thành. Khanh và Vy mắt tròn xoe ngó chẳng biết là món gì. Vậy mà ăn rồi, cứ tấm tắc khen hoài khen mãi.


Bánh lọt Ninh Hòa không phải sợi bánh ngắn, mềm mềm của bột gạo trộn bột năng, có hai màu xanh và trắng, ăn kèm với đường, nước dừa thơm mùi lá dứa, bỏ thêm vài viên đá mát lạnh, thường được rao bán trong các xe đẩy khắp vỉa hè như một loại thức ăn đường phố nổi tiếng vào mùa nóng ở Sài Gòn và các tỉnh miền Nam. Đó là loại bánh làm bằng bột năng, vo tròn, xỏ xâu, trộn dừa, ăn với mè và đường cát.
Làm bánh lọt dễ ẹt à. Cứ đổ bột năng vô thau, rưới nước sôi lên, lấy đũa trộn thiệt nhanh để bột chín tới. Chờ nguội, lấy tay bóp đều cho bột khỏi sượng. Nếu quá khô, chưa kịp chín thì cho thêm nước nóng, còn nhão quá thì trộn tí bột khô. Nhồi bóp một hột thành cục bột có màu trắng đục. Ngắt bột, dùng hai tay se thành dây rồi lấy kéo cắt nhỏ từng viên như hòn bi xanh đỏ. Bột năng rất dai nên phải cắt mới đẹp, chứ lấy tay ngắt nó sẽ không đều, xấu xí. Nhớ hốt ít bột khô rải đều cho khỏi dính vào nhau. Bắt nước cho sôi luộc bột. Bột chín vớt liền ra rổ, xả nước lạnh cho nguội. Chờ ráo, trộn đều với dừa bào nhuyễn.
Hồi còn khó khăn, người ta toàn bào dừa bằng tay. Cái bào bằng sắt đen thui, dài cỡ cây đũa xới cơm, một đầu bằng phẳng, còn đầu kia hình tròn, có răng cưa, bén ngót. Dừa khô đập bể làm đôi, để cái bào lên ghế, lấy chân dậm chắc đầu bằng, còn đầu kia dôi ra, bên dưới để thau nhựa hứng dừa. Cầm nửa trái dừa bào lên, bào xuống, bào trái, bào phải, hột dừa nhỏ li ti rớt xuống đầy thau. Gần sát sọ thì ngưng, bỏ vỏ một bên, lấy nửa kia bào tiếp. Sau này tiến bộ, thợ hàn phát minh ra máy bào dừa, đưa vô làm rột rột một phát là xong. Khỏi tốn công tốn sức mà không sợ đôi khi lơ đễnh, dừa hổng bào, mà bào thẳng vô tay, máu chảy đỏ thau, đau thấy mấy ông trời. Các chị bán chè sắm một cái để trong nhà, khi nào cần xài cho tiện. Còn không ra chợ, tới hàng dừa, lựa trái già, đưa họ bào luôn. Khỏe re như bò kéo xe. Tới giờ, nghề bào dừa ở chợ Dinh vẫn làm ăn khấm khá.
Người ta dễ dàng tìm thấy viên bánh lọt dính dừa, xỏ vô cọng sống lá, năm viên thành một xâu, để trên mâm đậy bịch nhựa, bán đầy các hàng quán khắp nơi từ đầu trên xóm dưới. Một cây hai trăm rưỡi, hai cây năm trăm. Rẻ ghê chưa! Ai tới mua, chị rải ít đường cát trắng trộn mè lên miếng nhựa, bỏ bánh lọt vắt đường cho dính đều. Cắn từng viên một, cảm giác bột dai, dừa béo, đường ngọt, mè thơm vỗ đều trong miệng. Chẳng phân biệt già trẻ bé trai, ăn riết thành ghiền. Mỗi lần cả chục cây hổng ngán.
Lần đó đãi bạn nên má chẳng xỏ xâu chi cho cực. Làm một thau to, múc vô chén, rưới đường cát rồi bốc từng viên nhai ngon lành. Mỗi đứa ăn tới ba chén no cành hông mà vẫn chưa đã nư. Còn dư bao nhiêu gói bịch mang lên tàu ăn tiếp.
Để rồi mười bốn năm sau, Khanh vẫn hay nói đó là món bánh quê ngon nhất trần đời mà bạn từng được ăn. Có lẽ đó là lần đầu tiên bạn ăn ở vùng quê cách chốn phồn hoa bạn ở chưa tới ba mươi cây số. Ở đó, bạn ăn nhiều thịt thà, cá mắm trong nhà hàng, khách sạn đã đời, và khi nhai viên bột không nhân không nhị, tự nhiên thấy ngon, thấy lạ. Mà có lẽ, tại thau bánh năm xưa chất chứa chút tình của má thằng bạn nghèo hiếu khách, nhà hổng có cái chi ngon, lâu lâu bạn con tới chơi, cặm cụi làm một thau chiêu đãi.
Khanh bây giờ sống và làm việc ở Sài Gòn. Lần nào về hai đứa cũng hú hí hẹn hò đi xem phim, cà phê cà pháo, nói quàng nói xiên, nhắc lại những chuyện cố tỉ cố lai, xưa lơ xưa lắc rồi cười nắc nẻ như hai đứa trẻ chửa dậy thì, ngơ ngác.
Khanh hay kêu bữa nào rảnh tới nhà làm bánh lọt đãi tui ăn nữa nhen. Hễ gặp mấy người là tui lại thèm. Lâu lắm rồi chưa ăn lại. Tôi cứ hẹn lần hẹn lựa, ừa, bữa nào tui qua làm một thau ăn cho ói lòi luôn, khỏi đòi khỏi hỏi nữa.
Vậy mà cứ thất hứa hoài. Chán mình ghê.


http://www.ninhhoatoday.net/

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

N Ồ N G N À N C Ơ M R Ư Ợ U

NGUYỄN HỮU TÀI


1.
Tới giờ này tôi cũng chẳng biết dì tên chi, cứ nghe người ta gọi chị Chín, bà Chín, cô Chín riết nên cũng bắt chước kêu dì Chín bán cơm rượu cho thân mật. Dì không chồng, chẳng con, sống chung với má sát bên nhà người anh ruột ngay đường luồng chợ. Đó là đoạn đường tắt từ thôn Sáu ra cầu Dinh, ngắn hơn đường chính vài trăm mét. Đường đất, sát sông, lèo tèo mấy ngôi nhà nhỏ, âm u, tĩnh mịch. Tụi tôi chẳng bao giờ dám đi vì sợ ma. Thêm nữa, ngay chỗ đầu đường, mỗi dịp hai ba tháng Chạp cúng đưa ông Táo về trời, người ta cứ quăng một đống những lò đất nung cũ kĩ, sứt mẻ để thay lò mới nên càng huyền bí. Các chị gánh rau, gánh gạo thích đi đường luồng lắm vì tiết kiệm được cả đống thời gian và công sức. Với đôi gióng nặng trĩu trên vai, mới hay đoạn đường ngắn đi vài trăm mét quý biết chừng nào.
Sáng nào má dì cũng ngồi trước cửa, nhai trầu, lượm thóc trên nia, sàng, sảy nếp cho. Bà chầm chậm bỏ men có dính trấu vô cối đá, lấy chày giã nhẹ cho nát rồi đổ vô rây, lọc men mịn xuống thau, bỏ đi phần xác. Ngày nào đi ngang qua, cũng thấy bà làm nhiêu việc đó, làm hoài không chán. Cho tới bữa kia không thấy bà ngồi nữa. Chỉ thấy tang trắng trên đầu con cháu, vòng hoa thăm viếng và nước mắt tiễn đưa.
Dì Chín ngoài việc bán cơm rượu, kiêm luôn lựa nếp và giã men của má. Dì bán ngày hai buổi, sáng cạnh hàng bún bò của ngoại Hạnh (kêu là ngoại vì vai vế dòng họ, chứ bà còn trẻ măng, cỡ bốn mươi), tối bên hàng bún cá chị Trang, ngay xổ số kiến thiết. Cơm rượu thành một món quen, chỉ có năm trăm một ly, ăn là phải nhớ, nhớ thì phải ghiền, ghiền thì phải ghé.
Không giống cơm rượu miền Nam, vo thành viên nhúng vô men đem ủ, người Ninh Hòa cắt cơm rượu thành miếng hình chữ nhật xếp chồng lên nhau. Món đó dễ òm, ai cũng biết làm nhưng để nó lên men vừa đủ, nước ngọt, không quá nồng, quá lạt là cả một vấn đề. Nếp nấu như xôi, đổ nước vừa đủ, nhiều quá sẽ nhão, khó dính, ít lại khô, không ra nước. Trải xôi ra nia, lấy chai lăn đều, ép thành lớp mỏng. Chờ nếp nguội, rải men đều hai mặt. Làm quen tay nên không cần đong đo liều lượng, thấy đủ là ngưng. Lấy lá chuối hay túi nhựa bọc kín, đem vô chỗ tối ủ lên men. Nắng nóng khoảng một ngày, lạnh thì ngày rưỡi. Chờ men tan, thấm vào nếp, bắt đầu ra nước là giở lá chuối, lấy dao cắt thành miếng nhỏ hình chữ nhật, cỡ miếng thuốc dán, chất thành vòng tròn vô thẩu, chính giữa chừa lỗ để ra nước. Lấy nắp đậy kín, ủ thêm hai ngày nữa, cơm rượu đã thành rồi đó.
Giở nắp thẩu, cơm rượu thấm men mềm mượt, mùi thơm rất nồng, ngửi thôi đã ngất ngay say. Thường thì nước ra nhiều, dì hay chắt một nửa bỏ chai bán rượu nếp rồi nấu nước đường trộn thêm vô. Rượu nếp ngọt và thơm hơn rượu gạo. Uống thấy bình thường, cứ ngỡ ăn chè. Vậy mà tới ly thứ tư đã thấy ngần ngật, nói nhăng nói cuội, say nhanh hơn rượu Tây hay đế.
2.
Lúc nào cũng thấy dì cười. Ế cũng cười, đắt cũng cười, nắng mưa đi ngang qua thấy mặt là cười tất. Mắt dì một mí, thêm cái mụt ruồi trên môi, mỗi lần cười là chẳng thấy quê hương xứ sở. Thấy tôi đi qua, ê ê thằng kia, tới ăn giùm tao một ly coi, ế quá. Từ chối sao đành. Dì vớt ba miếng cơm rượu, múc nước bỏ vô lý, đập thêm ít đá, với tay lấy muỗng đưa tôi. Và cười. Nghe nói Chín có bồ hả? Đứa nào mà ác miệng mà đồn bậy vậy? Nói đi tao tới vả một cái cho môi mỏ dzảnh trét lên. Chín dữ quá hà, con hổng dám nói đâu. Thôi nói đi, tao cho thêm miếng nữa. Thì con nghe người ta nói có ông nào lạ hoắc tới ăn cơm rượu, Chín hổng chịu lấy tiền, mà cứ ngồi nhìn ổng rồi cười duyên e thẹn. Trời ơi, đúng là miệng lưỡi thế gian, có nhiêu đó mà cũng dựng đủ điều. Bồ bịch cái giống gì, thằng chả ghé ăn cho đã mới sực nhớ sáng nay vợ quên phát tiền nên đành thiếu nợ. Chẳng lẽ tao lột quần chả trừ? Ở như vầy không sướng sao? Chồng con chi cho cực. Mày đó nhen, con nít con nôi mà nhiều chuyện thấy sợ. Lần sau còn như vậy nữa tao đánh cho què giò. Thôi đưa ly đây, tao cho thêm miếng nữa.
Cắn miếng cơm rượu mềm èo, húp muỗng nước mát lạnh nồng vị rượu, nói bậy bạ với dì, làm dịu mát cơn khát cháy ban trưa.
3.
Dì đột ngột từ giã cõi đời không lời trăn trối. Thanh thản bình yên về với đất mẹ bao dung.
Rồi mỗi bận ngang qua đường luồng, nhìn vô nhà, chẳng thấy dì ngồi lựa nếp, giã men chi nữa, chỉ thấy tấm hình trên bàn thờ với nụ cười híp mắt. Dì không con, chẳng cái, vị ngọt nồng của miếng cơm rượu chìm vào năm tháng dần trôi.
Thỉnh thoảng thèm quá, tôi lôi mớ men mua bên nhà ra, nấu xôi, ủ theo cách ngày xưa học lóm. Chắc tại không phải nghề nên đôi khi bỏ men nhiều, men ít, có lúc ra nước ngập xong, có bữa khô rôm, sượng trân thấy tội. Làm riết cũng thành, ăn tàm tạm, tuy hổng ngon bằng dì làm nhưng cũng có cái gợi cho mình ít nhiều miền nhớ xa xăm.

http://www.ninhhoatoday.net/

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Viên Sỏi

Ann Nguyen

Có một thời mà tình thầy trò bè bạn như tình thân gia đình. Có một thời mà ngày Nhà Giáo Việt Nam không ngập tràn hoa và quà mà chỉ là nồi chè đậu đỏ và những buổi đi vườn cây ăn trái, cô trò rộn rả tiếng cười. Đó là những ngày của tuổi học trò chúng tôi đã đi qua. Ngôi trường B Mỹ Long có một lóp 9 P- P vì ngoại ngữ chính là tiếng Pháp- một cô giáo chủ nhiệm vui tính tên là Ngọc Tuyết, và những người bạn thân thương vẫn là bạn sau mấy mươi năm ly tán. Để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp lóp 9 vào trung học, thầy trò bàn nhau việc ôn bài thi, bạn học khá giúp bạn học yếu, không hề có đi học thêm. Lớp học "thêm" được nhà trường cho phép mượn ban đêm một phòng học và gắn mấy bóng đèn tròn chỉ vừa đủ sáng. Cả lớp cùng được thầy Tôn Khoa giúp cho môn toán và cô Ngọc Tuyết giúp cho môn văn. Năm đó lóp 9 P đậu kỳ thi chuyển cấp với tỉ lệ cao nhất trường. Xa rồi lớp 9 thân yêu!

Thời gian cứ mải miết trôi, cuốn theo nó những thăng trầm của đời người. Ngày đầu tiên được đi làm và nhận được tiền lương tháng, mỗi người có một tâm trạng rất riêng. Và cũng có người chợt nhớ đến công ơn của những người đã dìu dắt mình những năm dài từ ngày bắt đầu đi học chữ a, b đến những bài giảng trên giảng đường đại học. Giáo sư dạy đại học tiếp nhận sinh viên, hướng dẫn sinh viên rồi tiễn sinh viên vào cuộc sống: ngắn ngủi và ít gần gũi. Tuy vậy sinh viên y khoa có đến những 7, 8 năm miệt mài trên giảng đường và trên lâm sàng. Nhớ lắm chứ những ân cần của đàn anh, đàn chị từng cầm tay chỉ việc, từng nung đúc ý chí tiến thân, từng cùng nhau căng thẳng cho một ca mỗ và chăm sóc hậu phẫu hay cấp cứu nội khoa. Tình bạn, tình thầy trò những năm dài đại học y khoa thật keo sơn. 

Cũng có một thời mà học trò và thầy cô giáo không cùng chủng tộc, khác màu da mà tình cảm vẫn thiết tha. Ngoài việc hướng dẫn chuyên môn còn có cả niềm tin yêu và hi vọng. Ở trường đại học cộng đồng người ta không gọi là thầy cô giáo mà gọi là người hướng dẫn (instructors) tuy họ là những giảng viên và phải qua trường lớp cũng như những cuộc thi bằng hành nghề trước khi giảng dạy. Họ xem nghề dạy học cũng như các nghề khác và đó là một sở thích cho việc mưu sinh. Các giáo sư (professors) ở đại học cũng được gọi là người hướng dẫn tuy nhiên trên văn bản họ được gọi là giáo sư một cách kính trọng. Tuy việc dạy học là một nghề nhưng cũng không ít người rất đam mê và luôn là điểm sáng cho sinh viên của họ noi theo bằng chính những việc làm của bản thân. Ngày tốt nghiệp, có một sinh viên được cô giáo tặng cho một viên sỏi. Bất ngờ và thú vị với món quà. " Em là viên sỏi, tuy cứng nhưng vẫn có thể tạo thành dáng cho phù hợp. Hãy tiếp tục là viên sỏi tạo nên lửa khi cần. Và em có biết, giữa một mặt hồ phẳng lăng sự rơi của viên sỏi sẽ tạo nên những gợn sóng- đó là khả năng lan toả." Cô tân điều dưỡng năm nào mang viên sỏi theo cuộc hành trình nghề nghiệp với lòng biết ơn và yêu thương vô bờ. 

Dù ở nơi đâu hay ngôn ngữ nào thì nghề giáo luôn là một nghề trân quí cho sự khởi đầu của nhiều ngành nghề khác vì không ai thành danh mà không qua những ngày làm trò. Trẻ con được thầy cô dạy cho những chữ vỡ lòng, những con số trên bảng tính cộng trừ nhân chia. Người sinh viên được thầy cô mình hướng dẫn cách vào nghề bằng trái tim nhei65t huyết của người đi trước. Rồi thì các thầy cô sẽ già nhanh hơn các em học sinh bởi tuổi đời. Thầy cô ở lại nơi mình bám trụ, học trò bay đi muôn phương xây dựng cuộc sống mới. Cũng có đôi khi vô tình trò chẳng nhớ thăm thầy cô nhưng chắc hẳn sự biết ơn vẫn nằm đâu đó sâu lắng trong tận đáy lòng. 

Kỉ niệm ngày Nhà Giáo Việt Nam, viên sỏi nhỏ kính chúc các thầy cô giáo nhiều niềm vui, sức khoẻ, và yêu nghề thêm một tí. Thân gởi bạn bè một thời phổ thông và một thời sinh viên nhiều an lành trong cuộc sống.

San Jose,
11/18/14

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Tóc dài

Ann Nguyen


Xưa ba thường làm thơ tặng mẹ, một nhịp thơ rơi trên trang giấy với những băn khoăn "tóc em dài cho rối lòng anh." Không biết rối rắm thế nào mà khi các con lớn lên vẫn thường thấy ba nấu một ấm nước sôi cho mẹ tắm gội sau một ngày dài buôn bán chợ trưa. Thuở đó nhà nghèo không có máy nước nóng - nước lạnh như bây giờ, cũng chẳng có máy sấy tóc- ba thường giúp mẹ chải mái tóc dài chấm chân sau mỗi lần gội tóc.
Hai đứa con gái sáng nào cũng được ba chải tóc, rẻ thẳng đường ngôi trước khi đến trường kèn theo một nụ hôn nhôt da vì râu ba! Tóc dài hay ngắn ba vẫn muốn tóc hai đứa thẳng tắp tinh tươm.
Hai chị em từng làm "tín đồ" của tóc bím những năm dài của đời học sinh. Có một kẻ lơ ngơ ghi thơ từ thi sĩ "cho anh nhìn đôi bím tóc xinh, anh sẽ đổi nghìn ngày thơ dại". Rồi thì tóc bím đi xa thay vào đó là mái tóc dài có hôm quên rẻ đường ngôi. Chị bảo " em đi nào biết đến tôi, nhớ em chải tóc đường ngôi lệch hoài."
Xa nhau gần 17 năm, bạn bắt gặp mình trên FB với mái tóc ngắn, bạn tiếc ngẩn tiếc ngơ- đêm về nằm mơ vẫn thấy cô bạn ngày nào với mái tóc dài. Ừ thì tóc sẽ mọc dài ra thôi mà.
Tóc dẫu ngắn hay dài và dù có phôi phai màu theo năm tháng cũng không bằng những ân tình ta đã từng có duyên lành gieo hạt cho nhau. Cám ơn cho những yêu thương đã từng có trong nhau cho mái tóc...


Cô bán hàng mỹ phẩm ở Seoul

Tony Nguyễn


Thập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm 1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn và giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc đó cũng có nhiều người chỉ trích vì tính sĩ diện của người Hàn Quốc rất cao, lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa. Nhưng họ vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên từ cách đào tạo của giáo dục phương Tây phù hợp với đặc trưng châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, để còn lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội.
Đúng 20 năm, đến 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn lại khủng khiếp như thế. Ô-tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, bánh kẹo...bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó, dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn Quốc đã nắm chặt tay với quyết tâm thoát nghèo như thế nào. Trên tivi chỉ có 2 chương trình là "dạy làm người" và "dạy làm ăn", từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng, đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, đến cách tạo dựng một nhà máy. Từ một dân tộc "xin việc", tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao động Hàn, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi "cho việc", tức xây dựng các nhà máy ở nước ngoài và hàng triệu người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines đứng xếp hàng xin các ông chủ Hàn Quốc cho họ việc làm. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi cho việc người khác.
Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau và cười trong nước mắt, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế giới miễn visa cho họ, Hàn Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất loài người. Nhưng thách thức mới lại xuất hiện, vì bây giờ không phải là Nhật Bản nữa, mà là Hồng Kông và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí. Phim Hồng Công tràn ngập thị trường và không có đối thủ. Người Hàn tuyển chọn ngay 2000 sinh viên ưu tú nhất, cử sang Holywood, điên cuồng học hành, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang đạo cụ ...4 năm sau tốt nghiệp, năm 1992, những bộ phim Hàn Quốc đầu tiên ra đời như Cảm xúc, mối tình đầu, hoa cúc..với một thế hệ diễn viên đẹp từng milimet và hợp nhãn người châu Á. Ngành làm phim phối hợp với ngành thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng, bắt đầu xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình, tạo ra làn sóng Hanluy nổi tiếng. Người Nhật điên cuồng, người Trung Quốc điên đảo, các nước Đông Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa hỡi. Phim Hồng Công bị đá văng ra khỏi thị trường cho thuê băng đĩa.
Năm 1988, ngoài 2000 người đi Holywood để xây dựng công nghiệp điện ảnh, ngần ấy người được cử đi Milan và Paris để học về thời trang, mỹ phẩm. Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe sang Mỹ và châu Âu. Muốn bán cho Tây thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu" tròn tròn xinh xinh" của dân châu Á, tụi Tây không thích, không bán được. Có những năm, những mẫu xe của Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ và ngạc nhiên, thích thú.
Ngoài ra, những sinh viên giỏi toán nhất được hướng theo ngành tài chính ở các đại học lớn ở Mỹ, với tham vọng Seoul thành một London, New York. Các quỹ đầu tư ra đời, tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp be bé để rót tiền vào, tham gia vào quản trị. Không chỉ trích, chỉ góp sức góp trí để xây dựng. Một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn giàu. Hệ thống bán lẻ Lotte phải có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi, ông lớn Samsung bắt đầu tuyển dụng những sinh viên giỏi nhất châu Á về cho học bổng thạc sĩ miễn phí với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ thung lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy.
Người Hàn Quốc, dù dân thường hay sếp lớn, tất tần tật mọi thứ họ dùng phải Made in Korea, dù lúc sản phẩm kém cỏi còn xấu xí và đầy lỗi của thập niên bảy mươi hay hiện đại tinh xảo như bây giờ. Nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm nhem nhuốc của thời khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà có sản phẩm tinh xảo sau này?
Tony nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở VN cẩn thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ưa thích của chị ấy cho mình mua giùm. Ở cửa hàng mỹ phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho Tony xem, đều là của Hàn cả. Do tiếng Anh không nói tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc Tony lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất vọng oà khóc. Tony nhìn cô ấy sững sờ, lẽ nào chỉ là 1 cô gái bán hàng bình thường mà có lòng yêu đất nước mãnh liệt thế sao? Tony thôi bèn mua mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không, vì kính phục quá. Lúc Tony bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ gập đầu cung kính.
Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc gia ở sau lưng. Và Tony biết, sau lưng của mỗi công dân luôn là tổ quốc. 
http://www.ninhhoatoday.net/

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

SÓNG Ở TRONG LÒNG

Lương Mỹ Trang

Tôi luôn luôn có cái ám ảnh của những con sóng trên từng chặng đường đời.
Lớn lên trong thành phố biển đầy nắng gió, tôi yêu biển lúc nào không hay, yêu như chính máu thịt mình được nuôi đẫm đầy muối mặn Nha Trang, như chính cái tình kết tinh tự thuở hạt muối còn là giọt nước lóng lánh tung bọt lên trời xanh rồi chết lặng trên bờ ruộng mặn, như một tình yêu xa mà thực, tưởng hời hợt mà thắt lòng đắm say, tưởng mong manh, phôi pha mà đột ngột ùa về cuốn phăng, nhận chìm trong cảm xúc thương và nhớ đến nghẹn lời!
Ngôi trường thiếu nữ kề bên biển, những sáng sớm, những trưa muộn,  biển động dội qua cửa lớp tiếng ầm ầm của sóng, hòa theo tiếng réo rắt phi lao, cho tôi bất chợt lúc nào đó, ngẩn ngơ rời mắt khỏi bảng đen, hun hút trí tưởng tượng nghe biển réo gọi ngoài kia, để thèm chân trần trên cát reo hò với sóng.
Biển của tôi, đằm thắm dịu dàng mùa hè, cô đơn và dữ dội mùa đông, ưỡn ngực đón gió, bản lãnh theo từng mùa bão động … nơi tôi đã cười, khóc, đã thầm thì, hét vang cùng sóng và gió lồng lộng, nơi tâm hồn trẻ thơ đã được nuôi dưỡng  tình yêu thiên nhiên bằng gió và nắng hào phóng , để đêm đêm, nghe tiếng sóng xa xa vọng về, êm êm dỗ tôi vào giấc ngủ trong cái nôi hậu phương bình yên của miền Nam Việt Nam những ngày lửa khói.
Khi đất không còn là nơi chốn an ổn, biển của tôi đã đưa tôi đi xa ngôi trường, con đường, thành phố tuổi thơ… Biển ân cần, vỗ về đưa tôi bình yên đến bờ bến lạ, nơi đất lành chim đậu, nơi tôi an nhiên đi lại từ đầu với trường lớp và tổ ấm mới.
Biển ôm vòng quê hương mới của tôi, xanh thẫm, rộng tình chở che cho tôi mỗi độ hè sang, tôi tìm về với biển New Castle, biển Rockdale, biển Sapphia, biển Terrigal …. thủ thỉ những lời của đứa trẻ ngây ngô ngày xưa, về những ước mơ đăm đắm đâu đó trong lòng, hay ngậm ngùi với biển về những xót xa trong đời, để được sóng ôm ấp vào lòng hòa tan từng niềm an ủi! Tôi yêu biển những lúc ấy, và yêu với mối tình mãnh liệt, chiếm đoạt, chìm hẳn trong nhau rồi tan tác, vỡ òa như sóng, như quy luật của cuộc đời, của số phận con người.
Tôi giờ đã đổi thay, tôi không còn là tôi với đôi mắt chim sẻ ngơ ngác bên thềm lớp trước tiếng chuông vào học, không còn là tôi của những niềm tin vào đời trong veo lý tưởng, tôi với trái tim mỏng mảnh của một tôi thời niên thiếu… dễ khóc dễ tin theo … nhưng biển và sóng của tôi thì không thay đổi, vẫn xanh biếc sắc trời, vẫn mênh mông muối mặn, vẫn là tình yêu xưa của tôi, dẫu biển ở một châu đại lục nào khác, vẫn mặn nồng sâu lắng.
Tôi tìm về biển bằng sức bật của con Bửa Củi cố gắng lật mình, kiên nhẫn đi qua những đoạn đời không bằng phẳng, để được sóng vuốt ve và mang đi tất cả những bụi bặm trần gian, và chỉ có thế, để những ngày sau tôi mạnh mẽ trở lại với guồng máy thường nhật, cắm cúi nén chặt nỗi nhớ  cồn cào ruột gan từng ngày qua!
Về với biển tôi nguyên vẹn là tôi của ngày xưa, hồn hậu niềm vui theo nhịp vỗ rào rạt thanh bình, tôi hoan ca cùng con nước xanh biếc đến độ lắng trong cả lòng, hay tôi ngẩn ngơ nhìn bọt biển đục ngầu, vỡ toang từng đợt sóng mỏi mệt giận dữ rồi trả về mọi thứ im lìm, phẳng lì trên cát.
Về với biển tôi không còn là con Cuốn Chiếu co mình trước nắng gió bên đời, tôi ôm biển và vững chải đón sóng ùa đến. Bạn có bao giờ phải đối diện với những cơn sóng to ập tới cuộc đời chưa? Biển sẽ dạy bạn cách đối phó, như tôi đã học từ sóng, bài học đối đầu với sóng gió, hoặc tôi hoảng hốt để bị đập lộn tùng phèo vùi xoáy, uống nước phình bụng, hoặc tôi an nhiên chờ đón, lao đầu vào sóng, chìm dưới nước sâu, lướt qua cơn thủy ba, hoặc tôi quay lưng chấp nhận cú đập vào đầu vào cổ, có khi té nhào tan tác trong cát bị rong cuốn chặt …. Nhưng khi lao vào sóng, tôi nhẹ hẫng lòng lo, tôi hòa vào nước và dập dềnh với sóng, bởi tôi chấp nhận đương đầu với sóng bằng cách lao vào sóng.
Những mùa trăng cũng thường làm tôi nhớ biển, nhớ sóng,
…. “đêm mùa trăng úa, làm vỡ hồn ta… lung linh bóng sáng từng thoáng lệ ngân, mà hồn phân vân cuồng điên nhớ . Long lanh tiếng Nguyệt cầm tiếng đàn trầm . Ai nhớ Nương Tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát, chết theo nước xanh chết theo nước xanh”…. ( CT)
Nước xanh của tôi giờ đây dậy sóng, những tin tức bên nhà sôi theo ngày nắng … tin đất, tin biển ….  sóng ở Bondi, Cronula, Byron Bay, Forster, Wollongong, St Kilda, Phillip Bay, Gold Coast … cuộn theo sóng Nha Trang, Đà Nẵng, Lý Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa … Ôi những cơn sóng xa mà mặn chát tình quê!
Chiều nay, tiếng lễ hội chiêng cồng của ngôi chùa ở vùng Wetherill Park bỗng mang theo âm hưởng:
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín từng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh….
Tiếng trống hào hùng của ngày xưa cũ giờ ở nơi nào … để cho bóng nguyệt lặng ngắt một màu tê tái …. để cho tiếng sóng ầm ầm nơi xa vẫn là nỗi day dứt không nguôi trong tôi, từng chiều ngồi nhớ quê xa …
Lương Mỹ Trang

Sydney, 30th May 2014 
http://www.ninhhoatoday.net/