Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI HỌC TỪ CÁC TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI HỌC TỪ CÁC TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

PRESSURE ULCER: ASSESSMENT - LOÉT DO TÌ ĐÈ: ĐÁNH GIÁ/THĂM KHÁM

Ann Nguyen 8/17/14


KHÁM MỘT VẾT THƯƠNG CĂN BẢN:

Bảng 1





ĐÁNH GIÁ CÁC NGUY CƠ:
  1.     Xin xem them phần Các yếu tố nguy cơ góp phần gây vết loét do tì đè
  2.     Sử dụng các bản đánh giá
a.      Bảng đánh giá Braden www.bradenscale.com
-          Sáu phần đánh giá: khả năng di chuyển, hoạt động, khả năng tiếp nhận cảm giác, độ ẩm của da, tình trạng dinh dưỡng, nguy cơ cọ sát, sự trượt/ tách rời do di chuyển
-          Bảng điểm từ 6 đến 23, điểm càng nhỏ thì nguy cơ có vết loét tì đè càng cao
-          Bảng đánh giá Braden Q dung cho  bệnh Nhi
b.     Bảng đánh giá Norton
-          Bảng đánh giá Norton được lập ra từ những năm 1960s  và được dung rộng rãi trong đánh giá nguy cơ loét do tì đè ở người lớn. Có 5 thang điểm đánh giá là thể chất, tinh thần, sinh hoạt, khả năng vận động, và tình trạng tiêu tiểu không tự chủ.
-          Tổng cộng điểm từ 5 đến 20,  điểm càng thấp thì nguy cơ càng cao. Một cách tổng quát, 14 điểm hay nhỏ hơn được xem là có nguy cơ cao.
-          Bảng đánh giá Norton được công bố trên tài liệu: Norton D., McLaren R., Exton-Smith AN. An investigation of geriatric nursing problems in the hospital. London. UK. National Corporation for the care of older people ( nay là Centre for Policy on Ageing.)
-          Dùng công cụ này kết hợp với sự thăm khám lâm sang để đánh giá tình trạng nguy cơ

Bảng 2



  3.      Đề nghị:
-          Bảng đánh giá loét do tì đè nên áp dụng thăm khám cho tất cả các bệnh nhân  có môt hay nhiều hơn các yếu tồ nguy cơ khi học vào viện ở khoa nội, khoa ngoại, khoa bệnh nặng, khoa chấn thương khoa tim mạch hay khoa hồi sức, bệnh nhân săn sóc tại nhà, bệnh nhân sắp chết, và cã những trung tâm dưỡng lão.
-          Đánh giá nguy cơ vết loét tì đè nên do một điều dưỡng  có chuyên môn thực hiện
-          Sự đánh giá này phải thường xuyên
o   Thường xuyên lặp lại khi bệnh nhân thay đổi trạng thái bệnh lý
o   Khi bệnh nhân có thay đổi trạng thái bệnh lý
o   Bệnh cấp tính: ít nhất mỗi 48 giờ
o   Bệnh mãn tính: mỗi tuần, mỗi 4 tuần
TIẾP TỤC ĐÁNH GIÁ
  1.      Đánh giá lại kết quả lâm sang và sự lành vết loét mỗi tuần, mỗi 4 tuần để điều chỉnh kế hoạch điều trị, chăm sóc hợp lý
  2.      Đáng giá chữa trị những bệnh lý đi kèm
  3.      Hướng dẫn bẹnh nhân chăm sóc và giới thiệu những nguồn giúp đỡ bên ngoài khi cần thiết

BASIC WOUND ASSESSMENT


RISK ASSESSMENT:

  1.      Please see the Risk Factors that Contributing to Pressure Ulcer 
  2.     Using the Scales:
a.       Braden Scale: http://www.bradenscale.com
-          Six subscales: mobility, activity, sensory perception, skin moisture, nutritional status, friction, and shear
-          Scores range from 6 to 23 with lower scores indicating greater impairment and high risks
-          Braden Q scale for pediatric patient
b.      Norton Scale:
-          The Norton Scale was developed in the 1960s and is widely used to assess the risk for pressure ulcer in adult patients. The five subscale scores of the Norton Scale are added together for a total score that ranges from 5-20. A lower Norton score indicates higher levels of risk for pressure ulcer development. Generally, a score of 14 or less indicates at-risk status.
-          Norton D, McLaren R, Exton-Smith AN. An investigation of geriatric nursing problems in the hospital. London, UK: National Corporation for the Care of Old People (now the Centre for Policy on Ageing); 1962. Reprinted with permission.
-          Use this tool in conjunction with clinical assessment to determine if a patient is at risk for developing pressure ulcers.


  3.     Recommendation:
-          Pressure ulcer risk assessment scales should be administered to all patients with one or more risk factors for pressure ulcer development when admitted to a hospital’s medical, surgical, intensive care, orthopedic, cardiovascular, or step-down unit, home care, hospice, or extended care facility
-          Pressure ulcer risk assessment scales should be administered by professional nurse
-          Regular assessment should occur:
o   Regularly and frequently as required by the patient’s condition
o   When the patient’s condition changes
o   Acute care: at least every 48 hours
o   Long-term care: weekly or the first 4 weeks
ON-GOING ASSESSMENT
  4.      Review the outcome of treatment weekly, then every 4 weeks in order to make the appropriate plan of care/ treatment
  5.      Assess the off loading methods
  6.      Review and treat the medical conditions that contribute to healing process

  7.      Patient teaching and available resources 


Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

RISK FACTORS THAT CONTRIBUTING TO PRESSURE ULCER - NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ GÓP PHẦN GÂY VẾT LOÉT TÌ ĐÈ


Ann Nguyen, RN, MSN, WCC, Clinical Nurse Manager (08/15/2014)



  1.      TÁCH RỜI DO TRƯỢT VÀ MA SÁT: 
           Hai yếu tố này thường đi đôi với nhau
-          Tách rời do sức trượt:
o   một sứ ép song song với dãy cơ mềm
o   có thể gây tổn thương phần mềm ngay dưới lớp da
o   gây tổn thương lỗ dò (đường hầm) hay một ổ phá huỷ dưới da
o   Ví dụ: hai lực kéo trái chiều giữa xương và cơ trong trường hợp bệnh nhân ở tư thế ngồi trượt dài trên giường và độ cao của đầu quá cao
-          Ma sát hay cọ sát:
o   Hai bề mặt di chuyển và cọ vào nhau
o   Có thể gây tổn thương phần dưới da
o   Ví dụ: bệnh nhân bị kéo trên mặt giường thay vì được nhấc lên khi trở mình
         
                         
         
                                       
   2.     QUÁ ẨM:
-          da có khuynh hướng ngấm nước (giữ ẩm)
-          dấu hiệu ngấm nước:
o   màu trắng, mô lỏng lẻo, nhiều nước và đôi khi có nếp nhăn
o   gây ra bởi: nhiều dịch tiết, mồ hôi, nước tiểu hay phân từ tình trạng tiêu tiểu không tự chủ
   3.     HẠN CHẾ VẬN ĐỘNG:
-          Những yếu tố làm giản khả năng vận động:
o   bị bắt buột phải nằm yên: gãy xương, cuộc mỗ, chấn thương cột sống …
o   yếu sức: bệnh nhân phải nằm giường hay ngồi xe lăn
o   trẻ em và sơ sinh
o   mang những dụng cụ y tế trên người: ống thông khí quản, ống thở o-xy, ống thong tiểu…
-          Những yếu tố làm bệnh nhân lười di chuyển:  đau, trầm cảm
-          Những yếu tố làm bệnh nhân mất cảm giác đau: thuốc làm mất cảm giác hay thiểu năng hệ thần kinh ngoại biên ở chi trên/chi dưới




   4.     THIẾU DINH DƯỠNG:
-          giảm lượng albumin trong máu:
o   albumin trong máu <2.5 g/dL là dấu hiệu cơ bản định mức thiếu dinh dưỡng do thiếu đạm
o   pre-albumin thường thay đổi theo lượng nước trong cơ thể
-          thiếu nước
   5.     HẠN CHẾ CẢM GIÁC:
-          Không có khả năng nhận biết đau
-          Ví dụ: tai biến mạch máu não, tiểu đường (đái tháo đường), bỏng nặng, bệnh lý thần kinh mạch máu ngoại biên
   6.     TUỔI-LÃO HOÁ:
-          giảm thiểu tính đàn hồi của mô
-          giảm tính mạnh mẽ của mô
-          tế bào dưới da bào mòn về hình thể, lớp dưới da mỏng
-          tăng độ thẩm thấu
-          sự lão hoá mang theo các bệnh lý phụ trợ kèm theo
   7.     TIỀN SỬ CÓ VẾT LOÉT
   8.     NHỮNG YẾU TỐ KHÁC:
-          giảm huyết áp tâm trương
-          hút thuốc lá
-          những yếu tâm thần- xã hội
-          bệnh thấp khớp
-          bệnh Alzheimer’s hay Parkinson’s
 --------------------------------------------------------------------------
   1.     SHEAR AND FRICTION:
-          Shear:
o   a force is applied parallel to the soft tissue along fascial planes
o   may cause damage to tissue below the surface of the skin
o   resulting in undermining and tunneling
o   Example: pulling the bone of the pelvis in one direction and the skin in the opposite direction – sliding in bed when the head of bed is high and patient is in sitting position
-          Friction:
o   two surface move across one another
o   damage to the epidermis makes the underlying tissues susceptible to further damage
o   Example: patient is dragged rather than lifted
   2.     EXCESSIVE MOISTURE:
-          predisposes skin by causing maceration
-          maceration:
o   white, friable, overhydrated, and sometimes wrinkled skin
o   caused by uncontrol wound drainage, perspiration, or incontinence
   3.     IMPAIRE MOBILIY:
-          Factors that affect to the ability to move:
o   restricted range of motion: fracture, operation, spinal injury
o   limited strength: bedbound, chair-bound
o   infants, neonates
o   presence of mechanical devices: trach, catheter, oxygen tubing
-          Factors that affect the desire to move: pain, depression
-          Factors that decrease the patient’s ability to perceive pain: medication, upper/lower motor neuron damage
   4.     MALNUTRITION:
-          Low albumin serum level
o   Albumin serum level < 2.5g/dL: benchmark for malnutrition
o   Pre-albumin is dependent on patient’s hydration status
-          Dehydration
   5.     IMPAIRE SENSATION
-          Inability to detect pain of tissue damage
-          Examples: spinal cord injury, diabetic mellitus, full thickness burn, peripheral neuropathy, stroke
   6.     ADVANCED AGE:
-          Decrease elastin content
-          Decrease tissue strength
-          Loss of dermal vasculature
-          Flattening/ thinning of epidermis
-          Increase skin permeability
-          Increase rate of comorbidities in the elderly
   7.     HISTORY OF PRESSURE ULCER
   8.     OTHERS:
-          Decrease diastolic blood pressure
-          Smoking
-          Psychosocial factor
-          Alzheimer’s disease and/ or Parkinson’s disease
-          Rheumatoid arthritis


Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

PRESSURE ULCER: CLASSIFICATION - LOÉT DO TỲ ĐÈ: PHÂN LOẠI


Ann Nguyen



 LỊCH SỬ VÀ MỤC ĐÍCH
 Lịch sử:
 Vào những thập niên 1980s, hội  International Association for Enterostomal Theray, nay là hội WOCN, điều chỉnh hệ thống phân loại từ bản gốc được thiết lập năm 1975. ( WOCN Society, 2003.)                                               
    1-Năm 2007, Hội National  Pressure Ulcer Advisory Panel (NPUAP) công bố một hệ thống phân độ đã được điều chỉnh. Hệ thống phân độ mới này cải thiện được sự phân loại và chính xác trong việc mô tả những tổn thương phần sâu và những tổn thương không thể phân độ (NPUAP, 2007.)
.  2- Năm 2009, một bảng qui định về loét do tỳ đè được công bố rộng rãi toàn cầu. Những qui định này có các định nghĩa về phân độ giống như những qui định đã có nhưng thêm vào phần tổn thương sâu và  phần  không thể phân độ tổn thương. Hai mức độ tổn thương mới trong qui định này được dùng ở nước Mỹ (NPUAP và EPUAP, 2009.)
Mục đích:
     1-Mức độ tổ thương của loét do tỳ đè được chẩn đoán và phân độ theo tổn thương được mô tả một cách đồng nhất, cùng ngôn ngữ trong chẩn đoán cũng như  điều trị và chăm sóc.
     2-Hệ thống phân độ này được thiết lập và chỉ  dùng cho vết loét do tỳ đè mà thôi. Sự phân độ được dựa vào mức độ tổn thương của các loại tế bào cũng như phần mô tả đáy của vết thương dựa trên kiến thức và kỹ năng lâm sàng căn bản.
     3-Giúp cho việc thanh toán viện phí và trách nhiệm của người thầy thuốc hay chăm sóc bệnh được phân định một cách rõ rệt.
PHÂN ĐỘ LOÉT DO TỲ ĐÈ: Theo hội National Pressure Ulcer Advisory Panel (NPUAP)
 Tổn thương sâu:
            Da liền, có màu đỏ nâu hay tím đậm, phần mô mềm bị tổn thương do đè nén, hay lực kéo. Phần tổn thương có thể gây đau, cứng, thay đổi nhiệt độ (nóng hơn hay lạnh hơn).
            Tổn thương bọng nước (phồng da) có máu, vết phồng màu đỏ trên vùng xương cũng được xem là tổn thương sâu.

Độ I:
            Da liền, vết đỏ không biến mất sau khi bỏ trống ra khỏi dấu tay ấn hay lực tỳ đè. Có thể có đau, cứng hay mềm hơn bình thường cũng có thể không có triệu chứng cơ năng.

Độ II:
            Tổn thương bán phần lớp dưới da. Đáy vết thương màu đỏ hoặc hồng, không có tế bào chết màu vàng đục. Những tổn thương dạng bọng nước (phồng da) màu trắng nơi mà bên dưới có xương cũng được xem là loét do tỳ đè độ II.


 Cần phân biệt độ II loét do tỳ đè với rách da (không nằm trên vùng xương, nguyên nhân không do lực đè nén, cọ xát), bỏng, viêm da quanh vùng kín do ẩm ướt nhiều ngày,  và tổn thương da nông diện rộng.
Độ III:
          
  Tổn thương và mất toàn bộ lớp da, lớp dưới da. Lớp tế bào dưới da hay lớp tế bào mỡ có thể được nhìn thấy nhưng không có sự hiện diện của xương, dây chằng, gân, và cơ trên vết thương. Tế bào hoại tử màu vàng đục có thể xuất hiện nhưng không tổn thương sâu vào cơ. Có thể hiện diện của đường hầm hay lỗ dò.
            Những tổn thương nông ở những vùng gần tổ chức xương sẽ rất dễ bị bỏ sót như vành tai, khuỷu tay, hay sóng mũi.




Độ IV:
            Mất toàn bộ mô da và dưới da, làm lộ cơ , xương, hay gân/dây chằng. Mô hoại tử màu vàng đục hay khô đen chiếm một phần nhỏ tổng thể đáy vết thương. Thường xuất hiện đường hầm hay lỗ dò.

            Chú ý tình trạng viêm xương nếu xương lộ ra trên đáy vết thương hay có thể sờ được xương lúc thăm khám.
Không xác định độ:
            Mất toàn bộ phần da và dưới da, đáy vết thương được bao bởi lớp nhầy hoại tử màu vàng, nâu, hay xám hoặc lớp hoại tử khô màu đen. Không xác định được chiều sâu của vết thương.


NHỮNG ĐIỂM LƯU Ý TRONG PHÂN ĐỘ:
     1-Hệ thống phân độ đi theo một chiều và không có chiều ngược lại khi vết thương tiến triển tốt và lành. Ví dụ khi bệnh nhân có vết thương độ II khi nhập viện và khi lành sẽ là lành trước khi ra viện, thì vết thương được chẩn đoán lành từ độ II chứ không phải là độ I. Lý do: tế bào tổn thương và mất đi, phần mô lành kéo đến từ xung quanh không làm cấu trúc vững chắc như phần mô nguyên thuỷ.     2-Loét do tỳ đè có thể xảy ra ở vùng niêm mạc như cánh mũi, khoé miệng, hay lỗ mở khí quản/ thực quản do các ống dẫn tỳ đè lên phần niêm mạc.

Muốn biết thêm nhiều chi tiết, xin tham khảo:

PRESSURE ULCER: CLASIFICATION

HISTORY AND PURPOSE:
History:
1.      During 1980s, The International Association for Enterostomal Therapy, now known as the WOCN society, modified the she staging system, which originally was developed in 1975 (WOCN society, 2003.)
2.      In 2007, the National Pressure Ulcer Advisory Panel (NPUAP) released an updated staging system. The new system improved clarity and accuracy by adding more descriptors and creating definitions for suspected deep tissue injury and unstageable pressure ulcer (NPUAP, 2007.)
3.      In 2009, international pressure ulcer guidelines were added the term category and specify that suspected deep tissue injury and unstageable categories are used in the US (NPUAP and EPUAP, 2009.)
Purpose:
1.      Staging of tissue layers provides increased uniformity of language and a beginning basis for evaluation of protocols.
2.      The staging system, which is designed for use with pressure-induced ulcer only, is based on the ability to assess the type of tissue in the wound bed.
3.      The staging system helps to identify the stage, the responsibility, and reimbursement per individual organization’s protocols.
STAGING
Suspected Deep Tissue Injury:
            Purple or maroon localized area of discolored intact skin or bold-filled blister.
Stage I
            Nonblanchable redness of a localized area usually over the bonny prominence. Darkly pigmented skin may not have visible blanching; its color may differ from the surrounding area.
Stage II
            Partial thickness lossof dermis presenting as a shallow open ulcer with a red-pink wound bed, without slough. May also present as intact or open fluid (serum)- filled blister.
Stage III
            Full-thickness tissue loss. Subcutaneous fat may be visible, but bone, tendon, or muscle is not exposed. Slough may be present but does not obscure the depth of tissue loss. May include tunneling or undermining.
Stage IV
            Full-thickness loss in which exposed bone, tendon, or muscle. Slough or eschar may be present on some parts of the wound bed. Often include undermining or tunneling.
Ustageable:
            Full-thickness loss in which the base of the ulcer is covered by slough (yellow, tan, gray, green, or brown) and/or eschar (tan, brown, black) in the wound bed.

Notes:
1.      There is no reverse staging
2.      Mucosal pressure ulcers are the ulcers that are located on the mucous membrane and caused by pressure such as tubing on nares, oral cavity, tract, GI tract, ect…
           




Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

LOÉT DO TỲ ĐÈ: NGUYÊN NHÂN VÀ THAY ĐỔI SINH LÝ BỆNH

Ann Nguyen
10:39 Ngày 03 tháng 08 năm 2014




NGUYÊN NHÂN:
Sự tỳ đè hay đè nén liên tục là nguyên nhân chính của vết loét do tỳ đè. Một pực đè nén quá tải trên vùng mô có xương bên dưới góp phần làm nên vết loét deo (1) sức đè nén, (2) thời gian đè nén,  và (3) khả năng chịu đựng của mô.
   1.      Sức đè nén:
a.       Lực mao mạch có khuynh hướng mang chất dịch ra khỏi lớp màng mao mạch:
-          Áp lực thỷ tĩnh cuối động mạch là 32 mmHg, cuối tĩnh mạch là 12 mmHg, và áp lực thẩm thấu mao mạch trung bình là 25 mmHg
b.      Lực đóng mao mạch:
-          Được xem là lực thấp nhất để sự phá vỡ của hệ mao mạch xãy ra
-          Mô bị thiếu khí và sự phá vỡ của thành động mạch và tĩnh mạch hình thành
-          Lực này được xác định khoảng trên 32 mmHg và 12-25 mmHg được xem là có nguy cơ
   2.      Thời gian của lực nén: được nghiên cứu khoảng 2 giờ
   3.      Sức chịu đựng của mô:
-          Đó là sự lành của da do các mô lân cận hỗ trợ cũng như phân phối lại lực nén trên mô
-          Sức chịu đựng này là sự phối hợp các lớp da, mô dưới da, cơ, xương theo ảnh hưởng song song của chuyển hóa áp lực từ bên ngoài mặt tiếp xúc đến xương.
-          Ảnh hưởng bởi hai nhóm áp lực chính: yếu tố bên ngoài (vết cắt hay trầy xước, ma sát, độ ẩm), yếu tố bên trong (thiếu dinh dưỡng, tuổi tác, huyết áp thấp, căng thẳng, hút thuốc lá, tăng nhiệt độ cơ thể, các bệnh lý lien quan máu và mạch máu cũng như hệ miễn dịch)

THAY ĐỔI SINH LÝ BỆNH
   1.      Thiếu máu cục bộ do tắt nghẽn mao mạch:
-          Hình thành huyết khối, phù mô, và sự tự hủy của tế bào.
-          Mô rơi vào tình trạng đói khí, chất dinh dưỡng và tiết ra nhiều chất thải.
-          Kết quả là tình trạng chuyển hóa yếm khí xảy ra, chất độc hại tiết ra đưa dần đến sự chết của tế bào.
   2.      Tổn thương do tái tưới máu:
-          Khi máu tưới lại vùng đã bị tổn thương sẽ làm cho vùng mô tổn thương tích lũy thêm nhiều bạch cầu và các gốc tự do. Sự kết hợp này làm nặng nề them tình trạng nghẽn mao mạch.
-          Các gốc tự do làm tồn thương các tế bào có đạm, các DNA, các màng bao tế bào, và góp phần vào quá trình chết của các tế bào.
-          Lực nén lên các thành mao mạch cũng làm tổn thương lớp tế bào dọc theo thành động mạch và thúc đẩy vào sự chết của các tế bào và sự hình thành huyết khối
-          Tóm lại, sự tưới máu trở lại vùng tổn thương làm nặng nền thêm tình trạng huyết khối và thiếu dưỡng khí
   3.      Giảm thiểu chức năng hệ mạch bạch huyết:
-          Đình trệ sự lưu thông của hệ bạch huyết làm phù nề các mô và dẫn đến hoại tử mô
-          Chất đạm bị giữ lại giữa các khoảng xung quanh mao mạch làm tăng them tình trạng thiếu nước của các mô và gia tăng tình trạng kích thích tế bào.
   4.      Kéo dài sự biến dạng cơ học của mô:
-          Sự đè nén càng kéo dài càng làm sự tổn thương nặng nề
-          Lực đè nén càng mạnh càng làm sự tổn thương xảy ra nhanh hơn
-          Lớp cơ nhạy cảm với lực đè nén hơn lớp da

PRESSURE ULCER: ETIOLOGY AND PATHOPHYSIOLOGIC CHANGES

ETIOLOGY
Any unrelieved pressure is the main cause of pressure ulcer. Excessive pressure on soft tissue over the bony prominence can be attributed to (1) intensity of pressure (2) duration of pressure, and (3) tissue tolerance
1.      Intensity of pressure:
a.       Capillary pressure tends to move fluid outward through the capillary membrane:
-          Hydrostatic pressure: 32 mmHg at the arterial end and a capillary bed, and 12mmHg at the venous end
-          The mean colloidal osmotic pressure in tissue: 25 mmHg
b.      Capillary closing pressure :
-          Minimal amount of pressure required to collapse a capillary
-          Tissue anoxia develops when externally applied pressure causes vessels to collapse
-          If the pressure more than 32mmHg would cause pressure ulcer, the pressure 12-25 is at risk for pressure ulcer.
2.      Duration of pressure:
-          Low-intensity pressure over a long period can create tissue damage just as high-intensity pressure can over a short period
-          Husain (1953) found that a pressure of 100 mmHg applied to rat muscle for 2 hours was sufficient to produce
3.      Tissue tolerance:
-          is the condition or integrity of the skin and supporting structures that influence the skin’s ability to redistribute the applied pressure.
-          is  influenced by the skin and underlying structures to work together as a set of parallel springs that transmitted load from surface to the tissue to the skeleton inside.
-          is affected by the extrinsic factors (shear, friction, moisture) and the intrinsic factors ( nutritional debilitation, advanced age, low blood pressure, stress, smoking, and increasing of the body temperature)
PATHOPHYSIOLOGIC CHANGES:
   1.      Ischemia caused by capillary occlusion:
-          Creation of thrombosis, tissue edema, and subsequent autolysis
-          Tissue becomes deprived of oxygen, nutrients and the means to remove waste
-          Resulting anaerobic metabolism produces toxic byproducts leading to eventual cell death
   2.      Reperfusion injury:
-          As blood returns to tissue where it was occluded, an accumulation of damaged cellular byproducts and white blood cells obstructs the capillaries and free radicals are released.
-          The free radicals damage the cellular proteins, DNA, and cell membranes and contribute to cell death
-          Compression of the capillary wall also damages the endothelium that exacerbates to the vessel occlusion and tissue ischemic process.
-          The redistribution of the blood supply that occurs in ischemic skin further aggravates pressure-induced tissue hypoxia.
   3.      Impaired lymphatic function:
-          In decrease lymphatic flow, allowing further tissue edema and potential tissue necrosis
-          Interstitial fluids retain proteins that dehydrate the cells, and tissue irritation.
   4.      Prolonged mechanical deformation of tissue cells:
-          The longer the pressure is maintained the greater the extent of tissue damage
-          Pressure ulcers form quickly under a higher pressure and more slowly under a low pressure

-          Muscle is more sensitive to pressure than skin