Hiển thị các bài đăng có nhãn BỆNH TIỂU ĐƯỜNG : Hỏi và Đáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BỆNH TIỂU ĐƯỜNG : Hỏi và Đáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

CHUỘT RÚT CƠ BẮP (VỌP BẺ) Ở NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Ann Nguyen biên dịch


  
  1.Chuột rút cơ bắp là gì? Chuột rút cơ bắp là sự co thắt không tự chủ của hệ cơ xương. Sự co rút này có thể xảy ra mọi lúc nhưng thường đánh thức giấc ngủ về đêm của nhiều người. Nó có thể ảnh hưởng đến mọi cơ bắp nhưng thường biểu hiện ở bắp chân, cơ trước và sau đùi, chân và cánh tay. Vì dù đường trong máu quá cao hay quá thấy đều đưa đến tình trạng co cơ này nên đa số bệnh nhân tiểu đường than phiền đau dữ dội trong những cơn co cơ.
   2. Nguyên nhân của chuột rút cơ bắp:
a.       Lượng đường trong máu và điện giải: Sự co giãn của cơ đòi hỏi một nguồn nhiên liệu chẳng hạn như đường và sự trao đổi cân bằng của điện giải ( muối, kali, canxi, và ma-giê) thẩm thấu qua màng tế bào. Khi hàm lượng đường quá thấp, cơ trở nên đói nhiên liệu. Khi lượng đường quá cao, cơ thể cố gắng đào thải qua đường tiểu gây tình trạng thiếu nước. Tình trạng rối loạn điện giải xảy ra và đi đến chuột rút cơ bắp nhất là ở những người có lượng đường huyết giao động một cách bất thường.
b.      Thần kinh và hệ tuần hoàn là những biến chứng của bệnh tiểu đường mà có thể làm nhân tố cho sự tổn thương thần kinh và kém tuần hoàn máu. Sự khiếm khuyết của hệ thần kinhg ngoại biên ở người tiểu đường gấy rối loạn sự co cơ. Trong một vài trường hợp, chuột rút cơ bắp là triệu chứng muộn của những vấn đề của tổn thương thận.
c.       Thuốc dùng và những nguyên nhân khác: Insulin, các thuốc làm giảm mỡ trong máu, thuốc an thần, nhóm beta-agonists, thuốc điều trị tâm thần, thuốc ngừa thay và rượu/cồn cũng có thể gây chứng co cơ này. Các bệnh lý như bướu cổ, hay cá tình trạng lọc thận, mang thai, bệnh chèn ép cột sống, ngồi/đứng/hay nằm ở một tư thế lâu cũng có thể gây chuột rút cơ bắp.
3. Phòng ngừa:
   1. Giữ lượng đường ở mức bình thường và tránh giao động
   2. Trước khi đi ngủ nên tắm nước ấm hay nóng.
   3. Nên khởi động cơ bắp trước khi chạy bộ, chạy xe đạp hay tập một môn thể thao nào. Và uống đủ nước.
   4. Dùng thức ăn có nhiều canxi, kali, và ma-giê như sữa, cá, cải xanh, rau xanh, chuối và tư vấn cùng bác sĩ về những thuốc vitamin bổ sung nếu cần.
   5. Mang giày vừa chân và tránh cọ xát chân.
  6. Có thể nghĩ đến phương pháp tập dưỡng sinh, yoga để giữ sự linh hoạt của cơ và khớp.
   7. Tránh ngồi không cử động trong một thời gian dài.

   8. Xoa bóp, căng cơ bắp ở chân, nhẹ nhàng kéo các ngón chân về phái mu bàn chân. 


Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Biến chứng mạch máu lớn của bệnh đái tháo đường là gì?


PGS, TS Nguyễn Thy Khuê 

tình trạng xơ vữa động mạch
Biến chứng mạch máu lớn của bệnh ĐTĐ chính là tình trạng xơ vữa động mạch kèm với các hậu quả của nó. 
Xơ vữa động mạch được cho là kết hợp tình trạng viêm và tổn thương ở lớp nội mạc mạch máu, các tiểu phân mỡ xấu LDL bị oxid hóa sẽ thấm nhập vào thành mạch máu, kích hoạt sự thâm nhập tế bào viêm và tăng sinh lớp cơ trơn ở thành mạch, tích tụ collagen, tạo nên mảng xơ vữa giàu lipid với phần trên là các sợi fibrin. Mối liên quan giữa bệnh ĐTĐ và xơ vữa động mạch chưa được hoàn toàn hiểu rõ. ĐTĐ làm gia tăng tính kết dính ở thành mạch máu, các tiểu cầu dễ tích tụ lại ở vùng mạch máu đã bị tổn thương, các sợi fibrin cũng tồn tại lâu hơn ở bệnh ĐTĐ, do đó người ĐTĐ có nguy cơ bị xơ vữa động mạch nhiều hơn người không bị ĐTĐ, và bệnh nhân ĐTĐ bị xơ vữa động mạch ở lứa tuổi sớm hơn so với người không bị ĐTĐ.
Bệnh nhân ĐTĐ type 1 lúc mới chẩn đoán, chưa có các biến chứng mạn tính. Bệnh nhân ĐTĐ type 2 thường có các rối loạn chuyển hóa khác cùng với tăng glucose huyết như béo bụng, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu. Các tình trạng đều góp phần gây xơ vữa động mạch. Tuy nhiên bản thân bệnh ĐTĐ cũng là nguy cơ của xơ vữa động mạch. Phụ nữ bị ĐTĐ có nguy cơ bị bệnh mạch vành cao hơn nam giới.
Nguyên nhân tử vong hàng đầu ở bệnh nhân ĐTĐ là do bệnh tim mạch và đây cũng là nguyên nhân gây tốn kém nhiều nhất.
Xơ vữa động mạch có thể đưa đến các hậu quả gì?
- Ở mạch máu não gây đột quị do xuất huyết não, nhũn não. Đôi khi bệnh nhân có cơn thoáng thiếu máu não.
- Ở tim gây bệnh cơ tim thiếu máu, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim
- Ở mạch máu ngoại vi gây tắc mạch chi, hoại tử chi.
Ngoài ra xơ vữa động mạch cũng góp phần gây rối loạn cương, loét chân. Một số các biến chứng khác hiếm gặp hơn: phình động mạch chủ, tắc mạch mạc treo…
Nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân ĐTĐ có thể không đau, khi chụp hình mạch vành, tổn thương mạch vành của bệnh nhân ĐTĐ thường ở nhiều chỗ và nhiều nhánh.
Người ĐTĐ tăng nguy cơ bị đột quị (tai biến mạch máu não) từ 150-400%. Nguy cơ sa sút trí tuệ liên quan với đột quị, tái phát và tử vong do đột quị ở người ĐTĐ  đều cao hơn người không ĐTĐ.
Bệnh mạch máu ngoại vi ở bệnh nhân ĐTĐ có thể gây hoại tử chi, nhất là khi bệnh nhân nghiện thuốc lá nặng. Hoại tử chi thường gặp ở các ngón chân. Ngón chân bệnh nhân thâm đen (thường gọi là hoại tử khô vì không có nhiễm trùng), nếu không điều trị kịp thời có thể mất ngón chân.
Làm sao phát hiện tình trạng xơ vữa động mạch và nguy cơ tim mạch?
Xơ vữa động mạch xảy ra âm thầm, thường chỉ có triệu chứng khi có tổn thương nặng ở các cơ quan. Khi khám bệnh, bác sĩ có thể phát hiện thấy các mạch máu của bệnh nhân cứng (thí dụ dấu giựt dây chuông ở khuỷu tay), hoặc tắc mạch ngoại vi (bắt mạch thấy mạch yếu hoặc mất mạch). Hiện nay siêu âm có thể phát hiện các mảng xơ vữa ở các động mạch. Soi đáy mắt cũng có thể thấy hình ảnh gián tiếp của các động mạch nhỏ bị xơ cứng.  Thông thường các bác sĩ sẽ chỉ định làm điện tim để phát hiện các hậu quả của bệnh động mạch vành, nếu có dấu bất thường và cần tìm hiểu thêm sẽ đề nghị bệnh nhân làm nghiệm pháp gắng sức.
“Nghiên cứu tiến cứu về ĐTĐ tại Vương quốc Anh”  đã xác định được nếu bệnh nhân đái tháo đường có các yếu tố nguy cơ sau đây thì dễ bị các biến cố tim mạch như cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim tử vong và không tử vong: đó là tăng LDL cholesterol (cholesterol xấu, có khuynh hướng làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch), giảm HDL cholesterol (cholesterol tốt, giúp giảm nguy cơ xơ vữa động mạch), tăng huyết áp nhất là huyết áp tâm thu, tăng glucose huyết, hút thuốc lá. Đây là các yếu tố có thể cải thiện được bằng thuốc hoặc thay đổi hành vi (ngưng hút thuốc).

bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ
Những dấu hiệu lâm sàng nào báo động có biến cố tim mạch?
Như đã nói ở trên, nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân ĐTĐ có thể không có triệu chứng đau điển hình, bệnh nhân cần đến khám bệnh khi có một số triệu chứng gợi ý: mệt, khó thở khi gắng sức (leo thang), chóng mặt, yếu một phần cơ thể, không cầm được các vật dụng hàng ngày (thí dụ đánh rơi bát, đũa khi ăn cơm) …Bệnh nhân bị giảm lượng máu đến chân có thể đau bắp chân khi đi bộ một quãng đường, ngồi nghỉ bớt đau, sau đó đi lại một quãng đường tương tự lại đau trở lại.   
Biến cố tim mạch gây tử vong cao, do đó khi cảm thấy có triệu chứng bất thường bệnh nhân nên đến khám ngay bác sĩ chuyên khoa.
Làm thế nào để phòng ngừa các biến cố tim mạch?
Duy trì nếp sống lành mạnh, ngưng hút thuốc, không uống rượu hoặc uống rượu điều độ, ngủ đủ giấc.
Ăn đúng giờ, đúng lượng thức ăn cần thiết theo chỉ dẫn, luyện tập thể lực thường xuyên.
Dùng thuốc theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ, khám bệnh theo đúng lịch hẹn để đạt các mục tiêu điều trị đã đề cập trong bài “Tổng quan về biến chứng của bệnh đái tháo đường”.

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Tổng quan về biến chứng của bệnh đái tháo đường

PGS, TS Nguyễn Thy Khuê 

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một rối loạn chuyển hóa mạn tính có đặc điểm chính là glucose huyết trong máu tăng cao. Glucose tăng cao trong máu lâu ngày sẽ làm tổn thương nhiều tổ chức, cơ quan trong cơ thể. Một trong những tổn thương quan trọng nhất xảy ra ở hệ thống mạch máu, do đó biến chứng chính của bệnh ĐTĐ bao gồm biến chứng mạch máu lớn và biến chứng mạch máu nhỏ. Tuy nhiên bệnh ĐTĐ cũng gây ra nhiều tổn thương ở các cơ quan khác như da, răng miệng…
Biến chứng mạch máu nhỏ của bệnh ĐTĐ bao gồm:
Biến chứng ở đáy mắt còn gọi là bệnh võng mạc ĐTĐ
Biến chứng ở thận còn gọi là bệnh thận ĐTĐ
Biến chứng thần kinh còn gọi là bệnh thần kinh ĐTĐ
Biến chứng mạch máu lớn của bệnh ĐTĐ có tổn thương chính là tình trạng xơ vữa động mạch với các hậu quả chính trên lâm sàng sau đây:
Đột quị (do thiếu máu não, xuất huyết não), hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua.
Bệnh cơ tim thiếu máu, nhồi máu cơ tim.
Bệnh mạch máu ngoại vi.
Yếu tố nào gây ra biến chứng của đái tháo đường?
Tùy từng loại biến chứng cơ chế sinh bệnh có thể thay đổi, nhưng yếu tố luôn hiện diện là tình trạng tăng glucose huyết kéo dài. Tuy nhiên có một số bệnh nhân dù glucose huyết tăng cao lâu ngày, nhưng biến chứng rất ít. Một số bệnh nhân khác chỉ bị bệnh một thời gian ngắn nhưng lại nhiều biến chứng nặng. Do đó ngoài tăng glucose huyết có thể còn có thêm ảnh hưởng của di truyền, môi trường hoặc các bệnh đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu…
Có cách nào để giảm bớt hoặc ngăn chặn biến chứng của bệnh ĐTĐ?
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh giảm glucose huyết, giảm được biến chứng. “Nghiên cứu  tiến cứu về bệnh ĐTĐ tại Vương Quốc Anh” theo dõi trong vòng 20 năm, khoảng 5000 bệnh nhân ĐTĐ type 2 mới chẩn đoán được chia làm 2 nhóm, một nhóm giảm glucose huyết tích cực và một nhóm chỉ điều trị sao cho bệnh nhân không có triệu chứng uống nhiều, tiểu nhều. Sau thời gian theo dõi trung bình 10 năm, nhóm giảm glucose huyết tích cực giảm các biến chứng liên quan đến ĐTĐ  khoảng 25% so với nhóm điều trị không tích cực; nghiên cứu sau đó được kéo dài thêm 10 năm, trong thời gian này cả hai nhóm đều được điều trị tích cực như nhau nhưng biến chứng mạch máu nhỏ và cả biến chứng mạch máu lớn (nhồi máu cơ tim) vẫn ít hơn ở nhóm được điều trị tích cực ngay từ đầu.
Ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 cũng có nghiên cứu cho kết quả tương tự: nghiên cứu mang tên “Kiểm soát ĐTĐ và các biến chứng [Diabetes  Control and Complications Trial –viết tắt là DCCT]” được thực hiện ở 1441 bệnh nhân ĐTĐ type 1, sau thời gian theo dõi trung bình 6,5 năm, nhóm được điều trị giảm glucose huyết tích cực có biến chứng mạch máu nhỏ (ở thận, đáy mắt và thần kinh) ít hơn nhóm giảm glucose huyết kém tích cực. Sau đó các bệnh nhân được tiếp tục theo dõi thêm khoảng 17 năm, lúc này cả hai nhóm cũng đều được điều trị tích cực như nhau, nhưng ở nhóm điều trị tích cực ngay từ đầu các biến chứng mạch máu nhỏ và cả các biến cố tim mạch đều ít hơn nhóm điều trị không tích cực.
Kết quả của hai nghiên cứu này đưa đến kết luận quan trọng: ngay từ khi mới chẩn đoán bệnh ĐTĐ, nếu điều trị giảm glucose huyết thật tốt, sẽ giảm được cả biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn.
Một nghiên cứu khác quan trọng ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 đã có albumin niệu - nghiên cứu Steno (được thực hiện tại trung tâm ĐTĐ Steno ở Đan mạch)- cho thấy nếu điều trị tích cực và toàn diện tất cả yếu tố nguy cơ tim mạch của bệnh ĐTĐ như tăng glucose huyết, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, ngưng hút thuốc cùng với ăn uống đúng và luyện tập thể lực, có thể giảm được biến chứng ở mắt, thận, thần kinh sau 8 năm; hơn thế nữa sau khi theo dõ thêm 13 năm, nhóm được điều trị tích cực ngay từ đầu giảm được 50% biến cố tim mạch và 50% tử vong.
Từ các kết quả nghiên cứu trên, mục tiêu điều trị của bệnh ĐTĐ đã được xác định. 

- Mục tiêu glucose huyết HbA1c < 7%
- Huyết áp <140/80 mmHg hoặc <130mmHg
- LDL cholesterol < 100 mg/dL (2,6 mmo/L) khi bệnh nhân chưa bị biến cố tim mạch và  <70 mg/dL (1,8mmol/L) ở bệnh nhân ĐTĐ đã bị biến cố tim mạch.
- HDL cholesterol > 40 mg/dL(1mmol/L) ở nam giới hoặc >50 mg/dL(1,25mmol/L) ở nữ giới
- Triglycerid < 150 mg/dL (1,68mmol/L)
-  Ngưng hút thuốc lá
-  Giảm cân nếu có thừa cân, béo phì.

Để đạt được các mục tiêu trên: 
Bệnh nhân nên tuân thủ điều trị, theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ và cần lưu ý sử dụng thuốc luôn luôn phải đi cùng với ăn uống điều độ và luyện tập thể lực đều đặn. Chế độ luyện tập thay đổi tùy theo sức khỏe của bệnh nhân, đơn giản nhất là đi bộ  ít nhất mỗi ngày nửa tiếng, nếu bệnh nhân đã lớn tuổi đau khớp có thể chia ra đi bộ nhiều lần trong ngày thí dụ đi bộ 10-15 phút sau 3 bữa ăn sáng, trưa, chiều.
Chế độ ăn lành mạnh là chế độ ăn có nhiều chất xơ, giảm chất béo (nhất là chất béo bão hòa có trong mỡ động vật hoặc chất béo trans có trong các loại thức ăn chiên rán ngập dầu, margarine, bánh bích qui), giảm muối, lượng bột đường vừa đủ. (Xin tham khảo thêm bài “có thể phòng ngừa bệnh đáitháo đường bằng cách ăn uống hợp lý?”).
Cũng cần chú ý duy trì nếp sống điều độ như ăn đúng giờ, ngủ đủ giấc, tránh ngồi lâu chơi vi tính hoặc xem truyền hình.